ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH -------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- |
Số: 14/2012/QĐ-UBND
|
Thành
phố Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 4 năm 2012
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ
ĐƠN GIÁ THUÊ ĐẤT, THUÊ MẶT NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26
tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ
Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền
thuê đất, thuê mặt nước;
Căn cứ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13
tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất,
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Căn cứ Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30
tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất,
thuê mặt nước;
Căn
cứ Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của
Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
Căn
cứ Thông tư số 141/2007/TT-BTC ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông
tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính
phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
Căn
cứ Thông tư số 94/2011/TT-BTC ngày 29 tháng 6 năm 2011 của Bộ Tài chính sửa đổi,
bổ sung Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm
2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
Xét
đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính tại các Tờ trình số 3013/TT-STC-BVG ngày 10
tháng 4 năm 2012, số 2774/TT-STC-BVG ngày 30 tháng 3 năm 2012, số 11466/TT-STC-BVG
ngày 04 tháng 11 năm 2011; ý kiến thẩm định của Sở Tư pháp tại Công văn số
150/STP-VB ngày 06 tháng 01 năm 2012,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Đơn giá thuê đất
1. Đơn giá thuê đất một mét vuông (1m2)
một năm được xác định theo công thức như sau:
Đơn giá
thuê đất một m2 một năm
|
=
|
Giá đất của
một m2 tính tiền thuê đất
|
x
|
Tỷ lệ phần trăm (%) tính tiền thuê đất
|
Trong
đó:
a) Giá đất
tính tiền thuê đất là giá đất theo mục đích sử dụng đất thuê do Ủy ban nhân dân
Thành phố quy định và công bố hàng năm. Trường hợp giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định và công bố hàng
năm tại thời điểm cho thuê đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì được xác định lại giá đất
cụ thể theo mục đích đất thuê sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực
tế trên thị trường trong điều kiện bình thường để tính tiền thuê đất theo trình
tự quy định tại Điều 7 Quyết định này;
b) Tỷ lệ phần trăm (%) tính tiền thuê đất
được xác định tùy theo khu vực và mục đích sử dụng đất thuê theo Bảng sau:
Mục
đích sử dụng đất thuê
|
Khu vực 1
|
Khu vực 2
|
Khu vực 3
|
Khu vực 4
|
Khu vực
5
|
Kinh doanh dịch vụ, thương mại; tài
chính; nhà hàng; khách sạn;
nhà ở cho thuê; văn phòng
làm việc và cho thuê.
|
2,5%
|
2,4%
|
2,3%
|
2,2%
|
2,1%
|
Sản xuất công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công
nghiệp; nhà kho, nhà xưởng; bến cảng, bến tàu, bến
phà, bến đò, bến xe, nhà ga, sân bay; hoạt động khoáng sản; sản xuất vật liệu
xây dựng, gốm sứ; đất xây dựng công trình công cộng có mục
đích kinh doanh; đất xây dựng siêu thị, cửa hàng thương mại, dịch vụ tiện
ích.
|
2%
|
1,9%
|
1,8%
|
1,7%
|
1,6%
|
Xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng
hoặc cho thuê tại các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất; sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.
|
1,5%
|
||||
Trong
đó, các khu vực được xác định như sau:
- Khu vực 1, gồm: Quận 1, quận 3,
quận 4, quận 5, quận 10, quận Phú Nhuận, Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, Khu đô thị mới Thủ Thiêm;
- Khu vực 2, gồm: Quận 2 (trừ Khu đô thị mới Thủ Thiêm), quận 6, quận 7 (trừ Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng), quận 9, quận 11, quận Bình Thạnh, quận
Tân Bình, quận Bình Tân;
- Khu vực 3, gồm: Quận 8 (trừ Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng), quận 12, quận Thủ Đức, quận
Tân Phú, quận Gò Vấp;
- Khu vực 4, gồm: Huyện Bình Chánh (trừ Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng), huyện Hóc Môn, huyện Nhà Bè, huyện Củ
Chi;
- Khu vực 5: huyện Cần Giờ.
c) Đối với đất thuê sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất làm mặt bằng sản
xuất kinh doanh của dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư, lĩnh vực đặc biệt
khuyến khích đầu tư: Tỷ lệ phần trăm (%) tính bằng 0,5 lần tỷ lệ theo mục
đích sử dụng và theo các khu vực nêu tại điểm b khoản này.
2. Đơn giá thuê đất để xây dựng công trình ngầm (không phải là phần ngầm của
công trình xây dựng trên mặt đất) được xác định bằng 30% đơn giá thuê đất trên
bề mặt có cùng mục đích sử dụng. Trường hợp đặc biệt cần khuyến khích đầu tư sẽ
do Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, quyết định cụ thể.
3. Đối với Khu Công nghệ cao Thành phố và
Khu Công viên phần mềm Quang Trung, quận 12 sẽ áp dụng theo quy định riêng của Ủy
ban nhân dân Thành phố.
Điều 2. Khung giá thuê mặt nước
Thực hiện theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của
Chính phủ và Mục II Phần B Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực
hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về thu
thuê đất, thuê mặt nước.
Điều 3. Thời điểm áp dụng nghĩa vụ tài
chính về tiền thuê đất
1. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho thuê đất thì nghĩa vụ tài chính được
xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm có quyết định cho thuê đất; trường hợp thời điểm bàn giao đất không đúng với thời điểm
ghi trong quyết định cho thuê đất thì nghĩa vụ tài chính được xác định theo
chính sách và giá đất tại thời điểm bàn giao đất thực tế.
2. Trường hợp tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân
đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuê do nhận chuyển
nhượng tài sản trên đất gắn liền với quyền sử dụng đất thuê; thay đổi tên đơn vị
thuê đất, bổ sung mục đích sử dụng đất tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Thành phố thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường mà
không cần điều chỉnh quyết định cho thuê đất, trong trường hợp phải xác định lại
đơn giá thuê đất do hết thời hạn ổn định hoặc do thay đổi mục đích sử dụng đất
thuê thì giá đất để tính tiền thuê đất được áp dụng tại thời điểm đơn vị, tổ chức
hết thời hạn ổn định hoặc tại thời điểm thay đổi mục đích sử dụng đất thuê.
3. Trường hợp tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá
nhân được Nhà nước tạm thời cho thuê đất trong thời gian chờ thực hiện quy hoạch
hoặc đối với phần diện tích đất thuộc quy hoạch lộ giới, mà không phải trình Ủy
ban nhân dân Thành phố ban hành quyết định cho thuê đất thì thời điểm xác định
đơn giá thuê đất được căn cứ theo văn bản đề nghị xác định đơn giá thuê đất của
Sở Tài nguyên và Môi trường gửi Sở Tài chính trong đó có xác định rõ thời gian
đơn vị nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định.
Điều 4. Thời hạn ổn định đơn giá thuê đất,
thuê mặt nước
1. Đơn giá thuê đất của mỗi dự án được ổn
định 05 năm. Hết thời hạn ổn định, thì Sở Tài chính (đối với trường hợp tổ chức
kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê
đất), Ủy ban nhân dân quận - huyện (đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân
thuê đất) quyết định đơn giá thuê đất cho thời hạn tiếp theo. Giá đất để xác định
đơn giá thuê đất cho thời hạn tiếp theo được thực hiện theo quy định tại Điều 7
Quyết định này.
2. Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất
thuê đối với hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm: Thực hiện theo quy
định tại Điểm b Khoản 5 Điều 5a Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12
năm 2010 của Chính phủ và hướng dẫn tại Điểm 3.2 Khoản 3 Điều 1 Thông tư số
94/2011/TT-BTC ngày 29 tháng 6 năm 2011 của Bộ Tài chính.
3. Đối với trường hợp thuê đất tạm quy định
tại Khoản 3 Điều 3 Quyết định này, thì đơn giá thuê đất cũng được ổn định 05
năm và được điều chỉnh theo quy định tại Khoản 1 Điều này. Trường hợp do nhu cầu
điều phối sử dụng của Nhà nước hoặc đơn vị có vi phạm về chế độ quản lý sử dụng
đất thì khu đất có thể bị thu hồi mà không phụ thuộc vào thời hạn ổn định đơn
giá cho thuê đất.
4. Đơn giá thuê mặt nước của mỗi dự án được
ổn định 05 năm. Hết thời hạn ổn định, Sở Tài chính trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố điều chỉnh đơn giá thuê mặt nước áp dụng cho
thời hạn tiếp theo. Đơn giá thuê mặt nước áp dụng cho thời hạn tiếp theo được
điều chỉnh theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng
11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
5. Điều chỉnh đơn giá
thuê đất, thuê mặt nước trong các trường hợp sau đây:
a) Dự án đã thực hiện thu tiền thuê đất,
thuê mặt nước hết thời hạn ổn định theo quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 Điều này;
b) Dự án thay đổi mục đích sử dụng đất
thuê thì thực hiện điều chỉnh lại đơn giá thuê theo mục đích sử dụng mới tại thời
điểm thay đổi mục đích sử dụng đất.
6. Việc điều chỉnh đơn giá thuê đất, thuê
mặt nước không áp dụng cho các trường hợp:
a) Tại thời điểm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố điều chỉnh đơn giá thuê đất, thuê mặt nước,
chưa hết thời gian ổn định đơn giá thuê trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều
5 Quyết định này;
b) Dự án trả tiền thuê đất, thuê mặt nước
01 lần cho cả thời hạn thuê mà tại thời điểm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố điều chỉnh đơn giá thuê đất, thuê mặt nước
đã xác định xong đơn giá thuê đất, thuê mặt nước, đã nộp tiền thuê đất, thuê mặt
nước.
Điều 5. Áp dụng đơn giá thuê đất, thuê mặt
nước
1. Trường hợp điều chỉnh đơn giá thuê đất,
thuê mặt nước:
Dự án thuê đất, thuê mặt nước trước ngày
01 tháng 01 năm 2006 nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước hàng năm mà chưa thực hiện
điều chỉnh lại đơn giá thuê đất thì việc xác định lại đơn giá thuê đất, thuê mặt
nước được thực hiện như sau:
a) Dự án đầu tư mà tại một trong ba loại
giấy tờ sau đây: Giấy chứng nhận đầu tư (Giấy phép đầu tư), Quyết định cho thuê
đất, Hợp đồng thuê đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (ký kết) có quy định
đơn giá thuê đất, thuê mặt nước và nguyên tắc điều chỉnh đơn giá thuê thì được
tiếp tục thực hiện nguyên tắc điều chỉnh đơn giá thuê đã ghi trong Giấy chứng
nhận đầu tư (Giấy phép đầu tư); Quyết định cho thuê đất hoặc Hợp đồng thuê đất;
b) Dự án đầu tư không thuộc quy định tại
Điểm a Khoản 1 Điều này thì giao Sở Tài chính căn cứ Nghị định số
142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13
tháng 8 năm 2009; Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của
Chính phủ và Quyết định số 107/2006/QĐ-UBND ngày 17 tháng 7 năm 2006 của Ủy ban
nhân dân Thành phố để thực hiện điều chỉnh đơn giá thuê đất cho các thời kỳ tiếp
theo theo quy định.
2. Trường hợp chưa xác định đơn giá thuê đất,
thuê mặt nước:
Dự án thuê đất, thuê mặt nước trước ngày
01 tháng 01 năm 2006 đến trước ngày 01 tháng 3 năm 2011 (ngày Nghị định số
121/2010/NĐ-CP có hiệu lực) nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước hàng năm mà chưa
xác định đơn giá thuê đất, thuê mặt nước thì đơn giá thuê đất, thuê mặt nước được
xác định tùy theo từng thời kỳ như sau:
a) Trước ngày 01 tháng 01 năm 2006: Giao Cục
Thuế Thành phố căn cứ quy định của pháp luật của thời điểm trước ngày 01 tháng
01 năm 2006 để xác định đơn giá thuê đất, thuê mặt nước và thu tiền thuê đất
theo quy định;
b) Từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 đến trước
ngày 01 tháng 10 năm 2009 (ngày Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm
2009 của Chính phủ có hiệu lực): Giao Sở Tài chính hoặc Ủy ban nhân dân quận - huyện (tùy theo thẩm quyền) xác định đơn giá thuê đất,
thuê mặt nước theo quy định tại Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11
năm 2005 của Chính phủ và Quyết định số 107/2006/QĐ-UBND ngày 17 tháng 7 năm
2006 của Ủy ban nhân dân Thành phố để xác định đơn giá thuê đất, thuê mặt nước;
c) Từ ngày 01 tháng 10 năm 2009 đến trước
ngày 01 tháng 3 năm 2011 (ngày Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm
2010 của Chính phủ có hiệu lực): Giao Sở Tài chính hoặc Ủy ban nhân dân quận - huyện (tùy theo thẩm quyền) xác định đơn giá thuê đất
theo quy định tại Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính
phủ và Quyết định số 107/2006/QĐ-UBND ngày 17 tháng 7 năm 2006 của Ủy ban nhân
dân Thành phố để xác định đơn giá thuê đất, thuê mặt nước.
3. Dự án thuê đất, thuê mặt nước từ ngày
01 tháng 3 năm 2011 trở về sau thì áp dụng đơn giá thuê đất, thuê mặt nước theo
Quyết định này và các văn bản pháp luật có liên quan.
4. Các trường hợp trả tiền thuê đất một
(01) lần cho cả thời gian thuê đất mà đã có quyết định (thông báo, thoả thuận)
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuê
đất hoặc mới nộp cho một số năm thì thời gian chưa nộp tiền thuê đất phải xác định
lại đơn giá thuê đất theo quy như sau:
a) Trường hợp lựa chọn phương thức trả tiền
thuê đất một lần cho cả thời gian thuê còn lại, thì đơn giá thuê đất được xác định
lại theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng
12 năm 2010 của Chính phủ;
b) Trường hợp lựa chọn phương thức trả tiền
thuê đất hàng năm cho thời gian thuê còn lại, thì đơn giá thuê đất được xác định
theo quy định tại Quyết định này.
5. Trường hợp đã nộp trước tiền thuê đất,
thuê mặt nước cho nhiều năm, thì trong thời hạn đã nộp tiền thuê đất, thuê mặt
nước không phải xác định lại đơn giá thuê đất, thuê mặt nước theo quy định của
Quyết định này. Hết thời hạn đã nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước thì xác định lại
đơn giá thuê đất, thuê mặt nước của thời gian tiếp theo, theo quy định của Quyết
định này.
6. Các trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cho
phép dùng giá trị quyền sử dụng đất thuê (tiền thuê đất) góp vốn liên doanh,
liên kết trước ngày Quyết định này có hiệu lực thì không điều chỉnh lại theo
quy định của Quyết định này. Hết thời hạn góp vốn liên doanh, liên kết bằng giá
trị quyền sử dụng đất thì phải xác định lại đơn giá thuê đất theo quy định tại
Quyết định này.
Điều 6. Thẩm quyền quyết định đơn giá cho từng trường
hợp thuê đất
1. Giám đốc Sở Tài chính căn cứ quy định tại
Quyết định này để quyết định đơn giá thuê đất cho từng dự án cụ thể đối với trường
hợp tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước
ngoài thuê đất.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận -
huyện căn cứ quy định tại Quyết định này để quyết định đơn giá thuê đất cho từng
dự án cụ thể đối với hộ gia đình, cá nhân thuê đất.
3. Trường hợp có ý kiến khác nhau về đơn
giá thuê đất giữa người thuê đất với cơ quan có thẩm quyền quyết định giá thuê
đất nêu tại Khoản 1, 2 Điều này thì quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân Thành phố là quyết định cuối cùng.
Điều 7. Trình tự xác định đơn giá thuê đất
1. Việc xác định giá đất cụ thể để tính đơn giá
thuê đất kỳ đầu trong trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm:
Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất hoặc cơ quan tài nguyên và môi trường chịu trách
nhiệm cung cấp hồ sơ địa chính cho Sở Tài chính hoặc Ủy ban nhân dân quận - huyện
(theo thẩm quyền quy định tại Điều 6 Quyết định này) trong vòng 10 ngày làm việc,
kể từ ngày có văn bản cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để xác định
đơn giá thuê đất.
Sở Tài chính hoặc Ủy ban nhân dân quận -
huyện căn cứ hồ sơ địa chính do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất hoặc cơ
quan tài nguyên và môi trường cung cấp để xác định đơn giá thuê đất, cụ thể như
sau:
1.1. Đối với tổ chức
kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài:
Căn cứ hồ sơ thuê đất theo quy định, Sở
Tài chính phối hợp với các cơ quan có liên quan xem xét tính phù hợp của giá đất
do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định với giá đất thực tế trên thị trường trong
điều kiện bình thường để xác định giá đất để tính đơn giá thuê đất trình Ủy ban
nhân dân Thành phố quyết định như sau:
- Trường hợp giá
đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định đã sát với giá chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường tại thời điểm xác
định đơn giá thuê đất thì áp dụng giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định
và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm để xác định đơn giá thuê đất.
- Trường hợp giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định
chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong
điều kiện bình thường tại thời điểm xác định đơn giá thuê đất thì phải xác
định lại giá đất phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên
thị trường trong điều kiện bình thường để tính đơn giá thuê đất; cụ thể như
sau:
a) Đối với những thửa đất có giá trị lớn
(tính theo giá quy định tại Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành)
từ 15 tỷ đồng trở lên thì Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định giá đất để tính đơn giá thuê đất cho từng thửa đất cụ thể.
Việc xác định giá đất thị trường để tính
đơn giá thuê đất trong trường hợp này do Sở Tài chính thuê tổ chức có chức năng
thẩm định giá xác định. Sau khi có chứng thư thẩm định giá, Sở Tài chính chủ
trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thuế Thành phố và các cơ quan
có liên quan thẩm định lại trình Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định giá đất
cho từng trường hợp cụ thể.
Các chi phí liên quan
đến việc thuê tổ chức thẩm định
giá xác định giá đất để tính thu tiền
thuê đất được chi từ ngân sách nhà nước bằng phương thức do đơn vị sử dụng đất ứng
trước để trả cho đơn vị tư vấn và được khấu trừ vào tiền thuê đất phải nộp.
Giao cơ quan Thuế thực hiện khấu trừ chi phí thuê tổ chức thẩm định giá vào tiền
thuê đất phải nộp theo quy định.
b) Đối với những thửa đất có giá trị nhỏ
(thấp hơn mức quy định nêu tại tiết a Điểm này) thì Sở Tài chính áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất là hai (02) lần
giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định và công bố hàng năm để xác
định giá đất tính đơn giá thuê đất theo quy định. Hệ số điều chỉnh giá đất này
sẽ thay đổi khi có quyết định điều chỉnh của Ủy ban nhân dân Thành phố.
1.2. Đối với hộ gia đình, cá nhân:
Căn cứ vào hồ sơ thuê đất, căn cứ biến động giá đất thực tế trên thị trường so với
giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định, Ủy ban nhân dân quận - huyện thực
hiện như sau:
a) Quyết định áp dụng giá đất do Ủy ban
nhân dân Thành phố quy định để xác định đơn giá thuê đất đối với hộ gia đình,
cá nhân trên địa bàn quận - huyện trong trường
hợp giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định đã sát với giá chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường tại
thời điểm xác định đơn giá thuê đất.
b) Trường
hợp giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định chưa sát với giá chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường tại
thời điểm xác định đơn giá thuê đất thì Ủy ban nhân dân quận - huyện xác định
giá đất tính thu tiền thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân như sau:
- Đối với những thửa đất có giá trị lớn
(tính theo giá quy định tại Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành)
từ 15 tỷ đồng trở lên, Ủy ban nhân dân quận - huyện có văn bản báo cáo Sở Tài
chính để hướng dẫn xác định giá đất để tính đơn giá thuê đất theo quy định tại
tiết a Điểm 1.1 Khoản này;
- Đối với những thửa đất có giá trị nhỏ
(tính theo giá quy định tại Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành)
thấp hơn 15 tỷ đồng, thì Ủy ban nhân dân quận - huyện áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất
là hai (02) lần giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định và công bố
hàng năm để xác định giá đất tính đơn giá thuê đất theo quy định. Hệ số
điều chỉnh giá đất này sẽ thay đổi khi có quyết định điều chỉnh của Ủy ban nhân
dân Thành phố.
2. Việc xác định giá đất cụ thể để điều chỉnh
đơn giá thuê đất khi hết thời kỳ ổn định trong trường hợp thuê đất trả tiền
thuê đất hàng năm:
a) Giao Cục Thuế Thành phố và Chi cục Thuế quận - huyện có trách nhiệm thường xuyên rà soát, phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường quận - huyện tổng hợp
các trường hợp đang thuê đất trên địa bàn, nhằm xác định các trường hợp thuê đất
đã hết thời hạn ổn định, có văn bản báo cáo, đề xuất cụ thể của từng trường hợp
gửi Sở Tài chính hoặc Ủy ban nhân dân quận - huyện (theo thẩm quyền) để quyết định
điều chỉnh đơn giá thuê đất.
b) Sở Tài chính hoặc Ủy ban nhân dân quận
- huyện căn cứ hồ sơ do cơ quan Thuế gửi đến để xác định đơn giá thuê đất, cụ
thể như sau:
- Trường hợp áp dụng
giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định để điều chỉnh đơn giá thuê
đất của kỳ ổn định tiếp theo thì Sở Tài chính xác định giá đất để điều chỉnh
đơn giá thuê đất (đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
tổ chức, cá nhân nước ngoài) theo thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 6 Quyết
định này; Ủy ban nhân dân quận - huyện xác định giá đất để điều chỉnh đơn giá
thuê đất (đối với hộ gia đình, cá nhân) theo thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều
6 Quyết định này.
- Trường hợp phải xác
định giá đất thị trường trong điều kiện bình thường để điều chỉnh đơn giá thuê đất của kỳ ổn định tiếp
theo thì không phân biệt thửa đất có giá trị lớn hay thửa đất có giá trị nhỏ đều
được được áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất là hai (02) lần giá đất do Ủy ban
nhân dân Thành phố quy định và công bố hàng năm để xác định giá đất tính
đơn giá thuê đất theo quy định. Hệ số điều chỉnh giá đất này sẽ thay đổi khi có
quyết định điều chỉnh của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Điều 8. Hiệu lực thi hành
1. Quyết định này có hiệu lực thi
hành sau mười (10) ngày kể từ ngày ký.
2. Xử lý một số vấn đề tồn tại khi Quyết định
này có hiệu lực thi hành:
a) Trường hợp nhà đầu tư thực hiện ứng trước
tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường,
giải phóng mặt bằng theo phương án đã được phê duyệt theo chính sách bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trước ngày 01 tháng 10 năm 2009
thì được trừ chi phí bồi thường đất, hỗ trợ đất vào tiền thuê đất phải nộp, mức
được trừ không vượt quá số tiền thuê đất phải nộp.
Trường hợp nhà đầu tư thực hiện ứng trước
tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường,
giải phóng mặt bằng theo phương án đã được phê duyệt theo quy định tại Nghị định
số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ thì được trừ số tiền đã
ứng trước vào tiền thuê đất phải nộp theo quy định tại Điều 15 Nghị định số
69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ;
b) Đối với các trường hợp đã ký hợp đồng
thuê đất và đã xác định đơn giá thuê đất đang thực hiện trong thời gian ổn định
tiền thuê đất (05 năm) thì khi hết thời gian ổn định đó mới điều chỉnh đơn giá
thuê đất theo quy định tại Quyết định này;
c) Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền cho thuê đất, mà giá đất tính tiền thuê đất phải xác định sát với giá
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình
thường, nhưng chưa được xác định, thì giao Sở Tài chính, Ủy ban nhân dân quận -
huyện căn cứ Quyết định này để xác định đơn giá thuê đất theo quy định.
3. Các nội dung khác chưa được quy định tại
Quyết định này thì được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 142/2005/NĐ-CP
ngày 14 tháng 11 năm 2005; số 121/2010/NĐ-CP ngày 30
tháng 12 năm 2010 của Chính phủ và các Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30
tháng 12 năm 2005; số 141/2007/TT-BTC ngày 30 tháng 11 năm 2007; số
94/2011/TT-BTC ngày 29 tháng 6 năm 2011 của Bộ Tài chính.
4.
Bãi bỏ các quy định sau:
a) Quyết định số 107/2006/QĐ-UBND ngày 17
tháng 7 năm 2006 của Ủy ban nhân dân Thành phố về đơn giá thuê đất trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh;
b) Các quy định trước đây về đơn giá thuê
đất do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành trái với Quyết định này đều bãi bỏ.
Điều
9. Trong quá trình thực
hiện Quyết định này nếu phát sinh vướng mắc thì các Sở - ngành thành phố và Ủy ban nhân dân quận - huyện phản ánh kịp thời cho Sở Tài chính để nghiên cứu, trình Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, quyết định.
Điều
10. Chánh Văn phòng Ủy
ban nhân dân Thành phố, Thủ trưởng các Sở - ngành Thành phố, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các quận - huyện, các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm
thi hành Quyết định này./.
Nơi nhận:
- Như Điều 10; - Thủ tướng Chính phủ; - Văn phòng Chính phủ; - Bộ Tài chính; - Bộ Xây dựng; - Bộ Tài nguyên và Môi trường; - Cục Kiểm tra văn bản QPPL - Bộ Tư pháp; - Thường trực Thành ủy (BT, PBT/TT); - Thường trực HĐND thành phố; - TTUB: CT các PCT; - Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố; - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc VN thành phố; - Các Ban HĐND thành phố; - VPUB: Các PVP; - Các Phòng Chuyên viên, ĐTMT (5); - Trung tâm Công báo; - Lưu:VT, (ĐTMT/Chg) D. |
TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH Nguyễn Hữu Tín |
CHÍNH PHỦ
------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- |
Số: 24/2012/NĐ-CP
|
Hà Nội, ngày 03 tháng 04 năm 2012
|
NGHỊ ĐỊNH
VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG
Căn cứ
Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ
Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ
Luật doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ
Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Theo
đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Chính
phủ ban hành Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng,
Chương
1.
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị
định này quy định về hoạt động kinh doanh vàng, bao gồm: Hoạt động sản xuất,
gia công vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức,
mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
vàng và các hoạt động kinh doanh vàng khác, bao gồm cả hoạt động kinh doanh
vàng trên tài khoản và hoạt động phái sinh về vàng.
2. Các
quy định của Nghị định này không áp dụng đối với hoạt động khai thác và tinh
luyện vàng của doanh nghiệp khai thác vàng.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
Nghị định
này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh vàng trên lãnh thổ
Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động kinh
doanh vàng.
Điều
3. Giải thích từ ngữ
Trong
Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Vàng
trang sức, mỹ nghệ là các sản phẩm vàng có hàm lượng từ 8 Kara (tương đương
33,33%) trở lên, đã qua gia công, chế tác để phục vụ nhu cầu trang sức, trang
trí mỹ thuật.
2. Vàng
miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng
và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam (sau đây được gọi là Ngân hàng Nhà nước) cho phép sản xuất hoặc vàng miếng
do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ.
3. Vàng
nguyên liệu là vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng và các loại vàng khác.
4. Hoạt
động kinh doanh vàng trên tài khoản là hoạt động kinh doanh vàng qua tài khoản,
dưới hình thức giao dịch ký quỹ và giá trị ròng được định giá lại liên tục theo
biến động của giá vàng.
Điều
4. Nguyên tắc quản lý
1. Quyền
sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định
của pháp luật.
2. Ngân
hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động
kinh doanh vàng theo quy định tại Nghị định này.
3. Nhà
nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu
vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.
4. Quản
lý hoạt động kinh doanh vàng nhằm phát triển ổn định và bền vững thị trường
vàng, bảo đảm hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ phục vụ cho
thị trường trong nước và xuất khẩu theo quy định của pháp luật.
5. Tổ chức,
cá nhân hoạt động kinh doanh vàng phải tuân thủ các quy định của Nghị định này
và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
6. Hoạt
động kinh doanh mua, bán vàng miếng; sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động
kinh doanh có điều kiện và phải được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh
doanh mua, bán vàng miếng hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang
sức, mỹ nghệ.
7. Hoạt
động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh có điều
kiện không cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.
8. Hoạt
động phái sinh về vàng của các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài thực hiện theo Điều 105 Luật các tổ chức tín dụng.
9. Các
hoạt động kinh doanh vàng khác, trừ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng, hoạt động
mua, bán vàng nguyên liệu trong nước của doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức,
mỹ nghệ và doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ và các hoạt
động quy định tại Khoản 6, 7, 8 Điều này, là hoạt động kinh doanh thuộc danh mục
hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh. Tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện các
hoạt động kinh doanh vàng khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép và được
Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép.
Chương
2.
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, GIA CÔNG VÀ MUA, BÁN VÀNG TRANG
SỨC, MỸ NGHỆ
Điều
5. Điều kiện hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ
1. Doanh
nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy chứng
nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ khi đáp ứng đủ các điều kiện
sau đây:
a) Là
doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký sản xuất
vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
b) Có địa
điểm, cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động sản
xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.
2. Ngân
hàng Nhà nước quy định thủ tục và hồ sơ Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất
vàng trang sức, mỹ nghệ.
Điều
6. Trách nhiệm của doanh nghiệp hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ
1. Thực
hiện đóng mã ký hiệu và hàm lượng vàng trên sản phẩm, công bố tiêu chuẩn áp dụng,
khối lượng của sản phẩm theo quy định pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp
luật về tiêu chuẩn công bố áp dụng và khối lượng sản phẩm đã công bố do doanh
nghiệp sản xuất.
2. Chịu
trách nhiệm trước pháp luật về tiêu chuẩn công bố áp dụng và khối lượng sản phẩm
do doanh nghiệp thuê gia công.
3. Chấp
hành các quy định của pháp luật về chế độ kế toán, lập và sử dụng hóa đơn, chứng
từ.
4. Có
phương án bảo đảm an toàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo vệ môi trường
và phòng chống cháy nổ.
5. Bảo đảm
duy trì các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định này.
6. Tuân
thủ các quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên
quan.
Điều
7. Hoạt động gia công vàng trang sức, mỹ nghệ
Cá nhân,
hộ gia đình, hợp tác xã và doanh nghiệp được thực hiện gia công cho doanh nghiệp
sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ và phải có đăng ký gia công vàng trang sức, mỹ
nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Điều
8. Điều kiện hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ
Doanh
nghiệp kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ phải đáp ứng đủ các điều kiện
sau đây:
1. Là
doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh
mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
2. Có địa
điểm, cơ sở vật chất và các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động mua,
bán vàng trang sức, mỹ nghệ.
Điều
9. Trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ
1. Niêm
yết công khai tại địa điểm giao dịch về khối lượng, hàm lượng vàng, giá mua,
giá bán các loại sản phẩm vàng trang sức, mỹ nghệ và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về chất lượng sản phẩm bán ra thị trường.
2. Chấp
hành các quy định của pháp luật về chế độ kế toán, lập và sử dụng hóa đơn chứng
từ.
3. Tuân
thủ các quy định của pháp luật về đo lường.
4. Có biện
pháp và trang thiết bị bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh.
5. Tuân
thủ các quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên
quan.
Chương
3.
HOẠT ĐỘNG MUA, BÁN VÀNG MIẾNG
Điều
10. Quản lý hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng
Hoạt động
mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức
tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua,
bán vàng miếng.
Điều
11. Điều kiện cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng
1. Doanh
nghiệp được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng
miếng khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Là
doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
b) Có vốn
điều lệ từ 100 tỷ đồng trở lên.
c) Có
kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mua, bán vàng từ 2 (hai) năm trở
lên.
d) Có số
thuế đã nộp của hoạt động kinh doanh vàng từ 500 (năm trăm) triệu đồng/năm trở
lên trong 2 (hai) năm liên tiếp gần nhất (có xác nhận của cơ quan thuế).
đ) Có mạng
lưới chi nhánh, địa điểm bán hàng tại Việt Nam từ 3 (ba) tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trở lên.
2. Tổ chức
tín dụng được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng
miếng khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Có vốn
điều lệ từ 3.000 (ba nghìn) tỷ đồng trở lên.
b) Có
đăng ký hoạt động kinh doanh vàng.
c) Có mạng
lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 5 (năm) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở
lên.
3. Ngân
hàng Nhà nước quy định thủ tục và hồ sơ cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng
miếng đối với doanh nghiệp, tổ chức tín dụng.
Điều
12. Trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh mua,
bán vàng miếng
Doanh
nghiệp, tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng có trách nhiệm:
1. Chỉ
được phép mua, bán các loại vàng miếng quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Nghị định
này.
2. Không
được phép thực hiện kinh doanh vàng miếng thông qua các đại lý ủy nhiệm.
3. Chấp
hành các quy định của pháp luật về chế độ kế toán, lập và sử dụng hóa đơn chứng
từ.
4. Niêm
yết công khai tại địa điểm giao dịch về giá mua và giá bán vàng miếng.
5. Có biện
pháp và trang thiết bị bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh.
6. Tuân
thủ các quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên
quan.
Chương
4.
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU VÀNG
Điều
13. Xuất khẩu, nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ
1. Việc
xuất khẩu, nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ được thực hiện theo Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
2. Việc
xuất khẩu, nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ để tham gia triển lãm, hội chợ quốc
tế thực hiện theo quy định của Chính phủ về hội chợ, triển lãm quốc tế.
Điều
14. Xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu
1. Căn cứ
vào mục tiêu chính sách tiền tệ và cung - cầu vàng trong từng thời kỳ, Ngân
hàng Nhà nước tổ chức thực hiện việc xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng
nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu
cho doanh nghiệp theo quy định tại các Khoản 3, 4, 5, 6 Điều này và cấp giấy
phép xuất khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp có Giấy phép khai thác vàng
theo quy định tại khoản 7 Điều này.
2. Hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu của Ngân hàng Nhà nước được miễn thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
3. Ngân
hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng
trang sức, mỹ nghệ cho doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy chứng nhận
đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.
4. Doanh
nghiệp kinh doanh vàng có hợp đồng gia công vàng trang sức, mỹ nghệ với nước
ngoài được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất
sản phẩm.
5. Hàng
năm, Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu trong
năm kế hoạch cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài căn cứ vào năng lực
sản xuất và báo cáo tình hình xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ của năm trước.
6. Doanh
nghiệp đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực khai thác vàng có nhu cầu nhập khẩu
vàng do doanh nghiệp khai thác ở nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp
Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu.
7. Doanh
nghiệp có Giấy phép khai thác vàng được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy
phép xuất khẩu vàng nguyên liệu do doanh nghiệp khai thác được.
8. Việc
xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu dưới dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối
vàng và các loại vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm được thực hiện theo Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
9. Ngân
hàng Nhà nước quy định điều kiện, thủ tục và hồ sơ cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập
khẩu vàng nguyên liệu quy định tại các Khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này.
Điều
15. Mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh của cá nhân
Người Việt
Nam và người nước ngoài khi xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế được
mang theo vàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Chương
5.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG
Điều
16. Trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước
1. Ngân
hàng Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, trình các cấp có thẩm quyền ban hành chiến
lược, kế hoạch về phát triển thị trường vàng và ban hành theo thẩm quyền các
văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo quy định tại
Nghị định này.
2. Ngân
hàng Nhà nước được bổ sung vàng miếng vào Dự trữ ngoại hối Nhà nước.
3. Ngân
hàng Nhà nước thực hiện can thiệp, bình ổn thị trường vàng thông qua các biện
pháp sau đây:
a) Xuất
khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định
này.
b) Tổ chức
và quản lý sản xuất vàng miếng thông qua việc quyết định hạn mức, thời điểm sản
xuất và phương thức thực hiện sản xuất vàng miếng phù hợp trong từng thời kỳ.
Chi phí tổ chức sản xuất vàng miếng được hạch toán vào chi phí hoạt động của
Ngân hàng Nhà nước.
c) Thực
hiện mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước và tổ chức huy động vàng
theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
4. Ngân
hàng Nhà nước cấp, thu hồi:
a) Giấy
chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.
b) Giấy
phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.
c) Giấy
phép xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu.
d) Giấy
phép mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh của cá nhân vượt mức quy định.
đ) Giấy
phép đối với các hoạt động kinh doanh vàng khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ
cho phép.
5. Ngân
hàng Nhà nước thực hiện kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động sản xuất vàng
trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng, vàng trang sức, mỹ
nghệ; hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu và hoạt động kinh doanh
vàng khác.
6. Ngân
hàng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác liên quan đến quản lý hoạt
động kinh doanh vàng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Điều
17. Trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương
Trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thực hiện quản lý
nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng như sau:
1. Bộ
Công Thương có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện chức
năng quản lý, kiểm tra, thanh tra hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức,
mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ và việc doanh
nghiệp kinh doanh vàng chấp hành, tuân thủ các quy định của pháp luật.
2. Bộ Kế
hoạch và Đầu tư có trách nhiệm quy định và hướng dẫn thực hiện cấp Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng và sao gửi Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã cấp cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương trên địa bàn để phối hợp thực hiện.
3. Bộ
Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước trình cơ quan có thẩm quyền
ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
vàng, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập đối với hoạt
động kinh doanh vàng phù hợp trong từng thời kỳ.
4. Bộ
Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan có trách nhiệm thực hiện
ban hành tiêu chuẩn chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ; kiểm tra, thanh
tra và quản lý chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị
trường và kiểm định phương tiện đo lường của các doanh nghiệp kinh doanh vàng.
5. Bộ
Công an có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc đấu
tranh, điều tra, xử lý các vi phạm pháp luật về kinh doanh vàng trong phạm vi
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.
6. Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh vàng tại địa
phương theo quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có
liên quan.
Điều
18. Phối hợp liên ngành về quản lý hoạt động kinh doanh vàng
Căn cứ
vào yêu cầu thực tế, các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm phối hợp, chia sẻ
thông tin để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinh doanh vàng; phối hợp
thực hiện kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh vàng theo quy định của pháp
luật.
Chương
6.
HÀNH VI VI PHẠM
Điều
19. Hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng
Hành vi
vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh vàng bao gồm:
1. Hoạt
động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện
kinh doanh do Ngân hàng Nhà nước cấp.
2. Hoạt
động kinh doanh mua, bán vàng miếng; xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu
không có giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp.
3. Mang
theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh của cá nhân vượt mức quy định không có giấy
phép do Ngân hàng Nhà nước cấp.
4. Sử dụng
vàng làm phương tiện thanh toán.
5. Hoạt
động sản xuất vàng miếng trái với quy định tại Nghị định này.
6. Hoạt
động kinh doanh vàng khác khi chưa được Thủ tướng Chính phủ cho phép và Ngân
hàng Nhà nước cấp giấy phép.
7. Vi phạm
các quy định khác tại Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên
quan.
Chương
7.
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều
20. Chế độ báo cáo
Các
doanh nghiệp, tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh vàng phải thực hiện báo cáo
tình hình hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ; tình hình mua, bán vàng
miếng; tình hình xuất khẩu, nhập khẩu vàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
và các cơ quan có thẩm quyền.
Điều
21. Điều khoản chuyển tiếp
1. Trong
thời hạn 12 (mười hai) tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành:
a) Các tổ
chức đang hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ phải thực hiện đăng ký
kinh doanh lại với cơ quan đăng ký kinh doanh và hoàn tất thủ tục xin cấp Giấy
chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ tại Ngân hàng Nhà nước
theo quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan.
b) Các tổ
chức đang hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ phải thực hiện
đăng ký kinh doanh lại với cơ quan đăng ký kinh doanh.
2. Ngân
hàng Nhà nước quy định thời hạn, thủ tục chuyển tiếp đối với các doanh nghiệp
và tổ chức tín dụng đang kinh doanh mua, bán vàng miếng.
3. Các
giấy phép sản xuất vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước cấp hết hiệu lực từ ngày
Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Điều
22. Hiệu lực thi hành
Nghị định
này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 5 năm 2012 và thay thế Nghị định số
174/1999/NĐ-CP ngày 09 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về quản lý hoạt động
kinh doanh vàng và Nghị định số 64/2003/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2003 của
Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 174/1999/NĐ-CP ngày 09 tháng 12 năm
1999.
Điều
23. Trách nhiệm thi hành
1. Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện
Nghị định này.
2. Các Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức, cá nhân
có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Nơi
nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP; - VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng; - HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW; - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; - Văn phòng Quốc hội; - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện kiểm sát nhân dân tối cao; - Kiểm toán Nhà nước; - Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia; - Ngân hàng Chính sách Xã hội; - Ngân hàng Phát triển Việt Nam; - UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; - VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; - Lưu: Văn thư, KTTH (5b) |
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG Nguyễn Tấn Dũng |
CHÍNH PHỦ
------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- |
Số: 06/2012/NĐ-CP
|
Hà Nội, ngày 02 tháng 02 năm 2012
|
NGHỊ ĐỊNH
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA CÁC NGHỊ ĐỊNH VỀ HỘ TỊCH,
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ CHỨNG THỰC
CHÍNH PHỦ
Căn cứ
Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Thực
hiện Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về việc đơn
giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp; Nghị
quyết số 50/NQ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa
thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Ngoại giao;
Xét đề
nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều
1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng
12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch
1. Điều
9 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 9.
Các giấy tờ cá nhân xuất trình khi đăng ký hộ tịch
Khi đăng
ký hộ tịch, nếu cán bộ Tư pháp hộ tịch xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cán
bộ Tư pháp hộ tịch) hoặc cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp) hoặc cán
bộ hộ tịch của Sở Tư pháp không biết rõ về nhân thân hoặc nơi cư trú của đương
sự, thì yêu cầu xuất trình các giấy tờ sau đây để kiểm tra:
1. Giấy
chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu của người đi đăng ký hộ tịch để xác định về
cá nhân người đó;
2. Sổ hộ
khẩu, Sổ đăng ký tạm trú (đối với công dân Việt Nam ở trong nước); Thẻ thường
trú, Thẻ tạm trú hoặc Chứng nhận tạm trú (đối với người nước ngoài cư trú tại
Việt Nam) để làm căn cứ xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo quy định của
Nghị định này.
3. Trong
trường hợp hồ sơ đăng ký hộ tịch được gửi qua hệ thống bưu chính, thì các giấy
tờ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải là bản sao có chứng thực; trường
hợp trực tiếp nộp hồ sơ thì nộp bản sao các giấy tờ nêu trên, kèm bản chính để
đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực.”
2. Bổ
sung Điều 9.a sau Điều 9 về thời hạn giải quyết việc đăng ký hộ tịch và hồ sơ
đăng ký hộ tịch như sau:
“Điều
9.a. Thời hạn giải quyết việc đăng ký hộ tịch và hồ sơ đăng ký hộ tịch
1. Đối với
những việc hộ tịch mà Nghị định này quy định thời hạn giải quyết, thì thời hạn
được tính theo ngày làm việc.
Đối với
những việc hộ tịch mà Nghị định này không quy định thời hạn giải quyết, thì được
giải quyết ngay trong ngày; nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ thì trả kết quả trong
ngày làm việc tiếp theo.
2. Các
giấy tờ phải nộp và xuất trình khi thực hiện các việc hộ tịch theo quy định tại
Nghị định này được lập thành 01 bộ hồ sơ.”
3. Điều
10 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều
10. Ủy quyền
Người có
yêu cầu đăng ký hộ tịch (trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký giám hộ, đăng
ký việc nhận cha, mẹ, con) hoặc yêu cầu cấp các giấy tờ về hộ tịch mà không có
điều kiện trực tiếp đến cơ quan đăng ký hộ tịch, thì có thể ủy quyền cho người
khác làm thay. Việc ủy quyền phải bằng văn bản và phải được công chứng hoặc chứng
thực hợp lệ.
Nếu người
được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy
quyền, thì không cần phải có văn bản ủy quyền, nhưng phải có giấy tờ chứng minh
về mối quan hệ nêu trên.”
4. Khoản
1 Điều 15 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Người
đi đăng ký khai sinh phải nộp Tờ khai, Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và
xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em
có đăng ký kết hôn).
Giấy chứng
sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế,
thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong
trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam
đoan về việc sinh là có thực.
Trong
trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ
em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.”
5. Khoản
2 Điều 18 được sửa đổi, như sau:
“2.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên
nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình,
thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ.
Trong
trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá
05 ngày.”
6. Khoản
1 Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Người
được cử làm giám hộ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và Giấy cử giám hộ. Giấy
cử giám hộ do người cử giám hộ lập; nếu có nhiều người cùng cử một người làm
giám hộ, thì tất cả phải cùng ký vào Giấy cử giám hộ.”
7. Khoản
3 Điều 31 được sửa đổi như sau:
“3.
Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy yêu
cầu chấm dứt việc giám hộ là phù hợp với quy định của pháp luật và không có
tranh chấp, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Quyết định công nhận chấm dứt việc
giám hộ, đồng thời ghi chú việc chấm dứt giám hộ vào sổ đã đăng ký giám hộ trước
đây. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người yêu cầu chấm dứt giám
hộ một bản chính Quyết định công nhận chấm dứt việc giám hộ. Bản sao Quyết định
công nhận chấm dứt việc giám hộ được cấp theo yêu cầu của đương sự.
Trong
trường hợp cần xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 02
ngày.”
8. Điều
32 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều
32. Điều kiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con
1. Việc
nhận cha, mẹ, con theo quy định tại Mục này được thực hiện, nếu bên nhận, bên
được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con và
việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp giữa những người có
quyền và lợi ích liên quan đến việc nhận cha, mẹ, con.
2. Người
con đã thành niên hoặc người giám hộ của người con chưa thành niên hoặc đã
thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự cũng được làm thủ tục nhận cha, mẹ
theo quy định tại Mục này, trong trường hợp cha, mẹ đã chết; nếu việc nhận cha,
mẹ là tự nguyện và không có tranh chấp giữa những người có quyền và lợi ích
liên quan đến việc nhận cha, mẹ.”
9. Khoản
2 Điều 34 được sửa đổi như sau:
“2.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận
cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì Ủy ban nhân dân cấp xã
đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.
Trường hợp
cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày.”
10. Khoản
1 và khoản 2 Điều 38 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Người
yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới
tính, bổ sung hộ tịch phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản
chính Giấy khai sinh của người cần thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại
dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch và các giấy tờ liên quan để
làm căn cứ cho việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định
lại giới tính, bổ sung hộ tịch.
Đối với
trường hợp xác định lại giới tính, thì phải nộp Giấy chứng nhận y tế do Cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính theo quy định
của Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về xác định
lại giới tính.
Việc
thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ
sung hộ tịch cho người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự
được thực hiện theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người giám hộ.
Đối với
việc thay đổi họ, tên, cho người từ đủ 9 tuổi trở lên và xác định lại dân tộc
cho người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên, thì phải có ý kiến đồng ý của
người đó thể hiện trong Tờ khai; trường hợp xác định lại dân tộc cho con dưới
15 tuổi phải nộp văn bản thỏa thuận của cha mẹ về việc xác định lại dân tộc cho
con.
Người
yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới
tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch có thể trực tiếp hoặc nộp hồ sơ qua hệ
thống bưu chính. Trong trường hợp gửi qua hệ thống bưu chính, thì các giấy tờ
có trong thành phần hồ sơ phải là bản sao có chứng thực; trường hợp trực tiếp
thì nộp bản sao kèm bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực. Riêng đối
với việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới
tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho công dân Việt Nam định cư ở nước
ngoài; hoặc việc cải chính hộ tịch, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều
chỉnh hộ tịch cho người nước ngoài trước đây đã đăng ký khai sinh trước cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam, thì phải trực tiếp nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp, nơi có
thẩm quyền giải quyết các việc hộ tịch nêu trên.
2. Trong
thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu việc thay đổi, cải
chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch hoặc cán bộ Tư pháp của
Phòng Tư pháp ghi vào Sổ đã đăng ký khai sinh trước đây và Quyết định về việc
thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký và cấp
cho đương sự một bản chính Quyết định về việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác
định lại dân tộc, xác định lại giới tính. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu
cầu của đương sự.
Trường hợp
cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày.
Nội dung
và căn cứ thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới
tính phải được ghi chú vào cột ghi những thay đổi sau này của Sổ đăng ký khai
sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh.”
11. Khoản
2 Điều 39 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Người
có yêu cầu điều chỉnh hộ tịch phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất
trình Giấy khai sinh; trường hợp nội dung điều chỉnh không liên quan đến Giấy
khai sinh, thì phải xuất trình các giấy tờ khác làm căn cứ cho việc điều chỉnh.
Việc điều
chỉnh hộ tịch được giải quyết ngay sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ. Cột ghi chú
của sổ đăng ký hộ tịch và mặt sau của bản chính giấy tờ hộ tịch phải ghi rõ nội
dung điều chỉnh; căn cứ điều chỉnh; họ, tên, chữ ký của người ghi điều chỉnh;
ngày, tháng, năm điều chỉnh. Cán bộ Tư pháp hộ tịch đóng dấu vào phần đã điều
chỉnh.”
12. Khoản
2 Điều 45 được sửa đổi như sau:
“2. Sau
khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký theo từng
loại việc và bản chính Giấy khai sinh hoặc Giấy chứng tử. Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp xã ký và cấp cho người đi đăng ký một bản chính Giấy khai sinh hoặc Giấy
chứng tử.
Trường hợp
cần phải xác minh, thì thời hạn xác minh không quá 05 ngày.”
13. Khoản
1 và khoản 2 Điều 48 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Người
có yêu cầu đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định)
và xuất trình bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây (nếu có); trong
trường hợp không có bản sao giấy tờ hộ tịch, thì đương sự phải tự cam đoan về
việc đã đăng ký, nhưng sổ hộ tịch không còn lưu được và chịu trách nhiệm về nội
dung cam đoan.
2. Sau
khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ hộ tịch theo từng
loại việc và bản chính Giấy khai sinh, Giấy chứng tử, Giấy chứng nhận kết hôn.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi đăng ký một bản chính giấy
tờ hộ tịch theo từng loại việc. Các giấy tờ hộ tịch cũ liên quan đến sự kiện hộ
tịch đăng ký lại (nếu có) được thu hồi và lưu hồ sơ.
Trường hợp
cần phải xác minh, thì thời hạn được kéo dài không quá 03 ngày.”
14. Khoản
2 Điều 50 được sửa đổi như sau:
“2.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ hộ tịch của Sở
Tư pháp ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Giám đốc Sở
Tư pháp ký và cấp một bản chính Giấy khai sinh cho người đi khai sinh. Bản sao
Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.
Trong
trường hợp cần xác minh, thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 03
ngày.”
15. Khoản
1 và khoản 2 Điều 52 được sửa đổi như sau:
“1. Người
đi đăng ký khai tử phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và Giấy báo tử hoặc giấy
tờ thay cho Giấy báo tử theo quy định tại Điều 22 của Nghị định này.
2. Sau
khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp ghi vào Sổ đăng ký
khai tử và bản chính Giấy chứng tử, Giám đốc Sở Tư pháp ký và cấp một bản chính
Giấy chứng tử cho người đi đăng ký khai tử. Bản sao Giấy chứng tử được cấp theo
yêu cầu của người đi đăng ký khai tử.
Trong
trường hợp cần xác minh, thì thời hạn được kéo dài không quá 03 ngày.”
16. Điều
56 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều
56. Thủ tục ghi vào sổ hộ tịch
1. Người
có yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch phải xuất trình bản chính hoặc bản sao giấy tờ hộ
tịch cần ghi; riêng đối với việc ghi vào sổ để công nhận việc kết hôn của công
dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, thì còn phải
nộp Tờ khai (theo mẫu quy định).
Người
yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch (trừ việc công nhận kết hôn; nhận cha, mẹ, con) có
thể trực tiếp hoặc nộp hồ sơ qua hệ thống bưu chính; trong trường hợp gửi qua hệ
thống bưu chính, thì các giấy tờ có trong thành phần hồ sơ phải là bản sao có
chứng thực; trường hợp trực tiếp thì nộp bản sao, kèm bản chính để đối chiếu hoặc
bản sao có chứng thực.
2. Sau
khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp ghi vào sổ hộ tịch
theo quy định tại Điều 57 của Nghị định này, trong trường hợp phải xác minh,
thì thời hạn được kéo dài không quá 03 ngày; riêng đối với việc ghi vào sổ để
công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền
của nước ngoài, thì thời hạn giải quyết là 05 ngày, trong trường hợp phải xác
minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày.”
17. Khoản
1 và khoản 2 Điều 59 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Người
đi đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và
xuất trình bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây (nếu có), nếu không
còn bản sao giấy tờ hộ tịch thì viết bản cam đoan về việc đã đăng ký, nhưng
không còn lưu được sổ hộ tịch và chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan. Đối với
việc đăng ký lại kết hôn và đăng ký lại việc tử, thì bản cam đoan phải có xác
nhận của 02 người làm chứng biết rõ về việc đã đăng ký và có xác nhận của Ủy
ban nhân dân cấp xã về chữ ký của hai người làm chứng.
2. Trong
thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ hộ tịch của Sở Tư
pháp ghi vào sổ đăng ký theo từng loại việc và bản chính: Giấy khai sinh, Giấy
chứng tử, Giấy chứng nhận kết hôn. Giám đốc Sở Tư pháp ký và cấp cho đương sự một
bản chính giấy tờ hộ tịch theo từng loại việc. Các giấy tờ hộ tịch cũ liên quan
đến sự kiện hộ tịch đăng ký lại (nếu có) được thu hồi và lưu hồ sơ.
Trường hợp
cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 03 ngày”.
18. Khoản
1 và khoản 2 Điều 63 được sửa đổi như sau:
“1. Người
yêu cầu cấp lại bản chính Giấy khai sinh phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định)
và bản chính Giấy khai sinh cũ (nếu có).
Người
yêu cầu cấp bản chính Giấy khai sinh có thể nộp trực tiếp hoặc gửi hồ sơ qua hệ
thống bưu chính; trong trường hợp gửi qua hệ thống bưu chính, thì các giấy tờ
có trong thành phần hồ sơ phải là bản cao có chứng thực; trường hợp trực tiếp
thì nộp bản sao kèm bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực.
2. Sau
khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp hoặc cán bộ hộ tịch
của Sở Tư pháp căn cứ vào Sổ đăng ký khai sinh đang lưu trữ để ghi vào nội dung
bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Giám đốc Sở
Tư pháp ký và cấp cho đương sự một bản chính Giấy khai sinh mới, thu hồi lại Giấy
khai sinh cũ (nếu có).
Trong
trường hợp phải xác minh, thì thời hạn được kéo dài không quá 03 ngày.”
19. Điều
64 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều
64. Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch và cấp lại bản chính Giấy khai sinh cho người
nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Các quy
định về cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch, cấp lại bản chính Giấy khai
sinh tại Chương này, cũng được áp dụng cho người nước ngoài và người Việt Nam định
cư ở nước ngoài trước đây đã đăng ký hộ tịch tại Việt Nam.
Thẩm quyền
cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch trong trường hợp này là Sở Tư pháp, Ủy
ban nhân dân cấp huyện hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lưu trữ sổ hộ tịch. Đối
với việc cấp lại bản chính Giấy khai sinh thì thẩm quyền là Sở Tư pháp, nơi lưu
trữ Sổ đăng ký khai sinh; trong trường hợp Sổ đăng ký khai sinh lưu tại Ủy ban
nhân dân cấp huyện hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã, thì Sở Tư pháp yêu cầu Ủy ban
nhân dân cấp huyện hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lưu trữ Sổ đăng ký khai
sinh cung cấp thông tin liên quan đến nội dung khai sinh để ghi vào bản chính
Giấy khai sinh.”
20. Khoản
1 Điều 67 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Người
yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định).
Trong
trường hợp người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ, có chồng,
nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết, thì phải xuất trình trích lục Bản
án/Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ly hôn hoặc bản sao
Giấy chứng tử. Quy định này cũng được áp dụng đối với việc xác nhận tình trạng
hôn nhân trong tờ khai đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của
Nghị định này.
Sau khi
nhận đủ giấy tờ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc viên chức Lãnh sự
ký và cấp cho đương sự Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu quy định).
Trường hợp
cần phải xác minh, thì thời hạn xác minh không quá 03 ngày.”
Điều
2. Sửa đổi, bổ sung Điều 8 của Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm
2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các
dân tộc thiểu số
“Điều 8.
Đăng ký kết hôn
Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện việc đăng ký
kết hôn.
Việc
đăng ký kết hôn được thực hiện tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tại tổ
dân phố, thôn, bản, phum, sóc, nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn.
Khi đăng
ký kết hôn, hai bên nam, nữ cần làm 01 bộ hồ sơ bao gồm: Tờ khai đăng ký kết
hôn, bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Sổ hộ khẩu hoặc Giấy khai sinh; trường
hợp nộp bản sao không có chứng thực, thì phải xuất trình kèm bản chính để đối
chiếu.
Sau khi
nhận Tờ khai đăng ký kết hôn, Ủy ban nhân dân cấp xã kiểm tra, nếu các bên đã
có đủ điều kiện hết hôn theo quy định tại Nghị định này, thì thực hiện ngay việc
đăng ký kết hôn trong ngày làm việc đó, nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ thì việc đăng
ký được thực hiện trong ngày làm việc tiếp theo; trong trường hợp cần xác minh,
thời hạn được kéo dài không quá 05 ngày làm việc.
Sau khi
hai bên nam, nữ ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy chứng nhận kết hôn. Bản chính Giấy chứng nhận kết
hôn được trao cho vợ, chồng mỗi người một bản tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã
hoặc tại nơi cư trú.”
Điều
3. Bãi bỏ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 và Điều 7 của Nghị định số
77/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng
ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật
Hôn nhân và gia đình.
Điều
4. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 18 tháng 5 năm 2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản
chính, chứng thực chữ ký
1. Khoản
2 Điều 9 được sửa đổi như sau:
“2. Người
yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc phải xuất trình chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu
hoặc giấy tờ tùy thân khác để cán bộ tiếp nhận hồ sơ kiểm tra.
Trong
trường hợp người yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc là những người được quy định tại
các khoản 2 và 3 Điều 8 của Nghị định này thì phải xuất trình thêm giấy tờ chứng
minh là người có quyền yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc.
Trong
trường hợp yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc qua bưu điện thì người yêu cầu phải gửi
đầy đủ các giấy tờ được quy định tại khoản này (bản chính hoặc bản sao chứng thực).”
2. Bổ
sung thêm khoản 4 Điều 10 như sau:
“4. Trường
hợp không tìm thấy sổ gốc hoặc trong sổ gốc không có thông tin về người được đề
nghị cấp bản sao thì cơ quan giữ sổ gốc có trách nhiệm trả lời bằng văn bản.”
3. Điểm
a khoản 1 Điều 17 được sửa đổi như sau:
“a) Chứng
minh nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác để cán bộ tiếp nhận hồ
sơ kiểm tra”.
Điều
5. Điều khoản thi hành
Nghị định
này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2012.
Các Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức và cá
nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Nơi
nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP; - VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng; - HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW; - Văn phòng TW và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội; - Văn phòng Quốc hội; - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện kiểm sát nhân dân tối cao; - UB Giám sát tài chính QG; - Kiểm toán Nhà nước; - Ngân hàng Chính sách Xã hội; - Ngân hàng Phát triển Việt Nam; - Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; - VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; - Lưu: Văn thư, PL (5b) |
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG Nguyễn Tấn Dũng |





