Theo quy định tại Nghị định số 120/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại Nghị định số 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại được chính phủ ban hành ngày 16/12/2011 và có hiệu lực vào ngày 01/02/2012 thì các trường hợp sau đây không phải đăng ký nhượng quyền:
- Nhượng quyền trong nước;
- Nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài.
Tuy nhiên, các trường hợp không phải đăng ký nhượng quyền phải thực hiện chế độ báo cáo Sở Công Thương.
THUANDUCLAF
Vận tải đường ống là một phương thức vận tải liên quan đến logistics
vì, về điều kiện kinh doanh, đang được điều chỉnh bởi Nghị định
140/2007/NĐ-CP ngày 05-9-2007 của Chính
phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics
và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.
Theo Nghị định số 140/2007/NĐ-CP, thương nhân nước ngoài kinh
doanh dịch vụ logistics không được kinh doanh dịch vụ vận tải đường ống. Thương
nhân nước ngoài là thương nhân thuộc các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có
cam kết trong các điều ước quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ logistics. Như
vậy, có thể hiểu chỉ doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài thành lập theo pháp luật Việt Nam mới được kinh doanh dịch vụ vận
tải đường ống. Hiện nay, chưa có một văn bản nào quy định trực tiếp, cụ thể điều
kiện kinh doanh dịch vụ vận tải đường ống. Nghị định số 59/2006/NĐ-CP quy định
chi tiết về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh
có điều kiện không thấy ghi nhận loại hình kinh doanh dịch vụ vận tải đường ống.
Thực trạng này có thể giải thích thông
qua nghiên cứu quy định của pháp luật qua từng thời kỳ và tình hình quản lý, vận
hành, khai thác các tuyến đường ống hiện nay. Các tuyến đường ống này ra đời và
phát triển gắn liền với quá trình phát triển của ngành dầu khí Việt Nam. Từ
năm 1959, trên cơ sở hỗ trợ của Chính phủ Liên Xô (cũ) và những phát hiện của
các nhà địa chất Pháp đầu thế kỷ XX về một số vết lộ dầu ở Đồng Hồ (Quảng
Ninh), Núi Lịch (Yên Bái), Nậm Úm và Sài Lương (Sơn La), Đầm Thị Nại (Quy Nhơn
- Bình Định), Việt Nam
đã tiến hành khảo sát địa chất dầu khí ở Miền Bắc. Nhưng do hoàn cảnh chiến
tranh, những hoạt động này chỉ dừng lại ở phạm vi thăm dò địa chất. Mãi đến
tháng 3-1975 mới phát hiện dòng khí thiên nhiên và condensate (khí ngưng tụ) có
giá trị thương mại tại giếng khoan ở Tiền Hải-Thái Bình.
Ngày 3-7-1980, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên Xô (cũ) ký Hiệp đinh hợp
tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam.
Năm 1981 ký Hiệp định thành lập Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt Xô
(Vietsovpetro) tại Vũng Tàu. Năm 1986 khai thác tấn dầu thô thương mại đầu tiên
ở mỏ Bạch Hổ, đánh dấu Việt Nam
vào trong danh sách các nước sản xuất dầu khí trên thế giới.
Năm 1987 Luật Đầu tư nước ngoài được ban
hành. Năm 1993 Luật Dầu khí được ban hành (sửa đổi, bổ sung năm 2000 và 2008).
Hoạt động dầu khí triển khai mạnh mẽ. Năm 1995 thành lập Tổng Công ty Dầu khí
Việt Nam nay là Công ty TNHH
Một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu với tên gọi Tập Đoàn Dầu khí Việt Nam
(Petrovietnam- PVN).
Đường ống đầu tiên là hệ thống đường ống
dẫn khí Nam Côn Sơn được xây
dựng trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với
các đối tác nước ngoài là BP Việt Nam và ConocoPhillips Việt nam. Dự án khởi động
từ năm 2001, do BP điều hành. Đến năm 2008 đã chuyển giao cho Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam, hiện nay do Tổng
công ty khí Việt Nam
(PVGas), thuộc Tập đoàn Dầu khí, vận hành. Đường ống này dài 400km, công suất 7
tỷ m3 khí /năm, vận chuyển khí từ bồn trũng Nam Côn Sơn ngoài khơi vào đất liền
và sau khi xử lý tại trạm Dinh Cố, phân phối cho khu công nghiệp Phú Mỹ, Hiệp
Phước. Ngoài ra, PVGas còn chịu trách nhiệm vận hành hệ thống đường ống khí PM3
– Cà Mau dài 330km, công suất 2 tỷ m3/năm. Năm 2010 PVGas đã ký hợp
đồng hợp tác kinh doanh với Chevron (Hoa Kỳ), MOECO (Nhật Bản) và PTTEP (Thái
Lan) để thực hiện Dự án Đường ống dẫn khí Lô B-Ô Môn, công suất 6,4 tỷ m3/
năm, dài gần 400km đi qua địa bàn TP.Cần Thơ và các tỉnh Hậu Giang, Kiên Giang,
Bạc Liêu, Cà Mau, chủ yếu cung cấp cho khu công nghiệp Khí Điện Đạm Cà Mau, Trung
tâm Điện lực Ô Môn, Trà Nóc - Cần Thơ.
Ngoài ra, phải kể đến Tổng công Xăng dầu
Việt Nam
(Petrolimex) đang vận hành, khai thác một số tuyến đường ống vận chuyển xăng dầu,
tổng chiều dài 500km, công suất vận chuyển 4 triệu tấn/ năm, phần lớn nằm ở các
tỉnh, thành phía Bắc như Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nội, Hà Nam…Hệ thống đường ống
này có nguồn gốc sở hữu nhà nước, được xây dựng để cung cấp xăng dầu cho nhu cầu
quốc phòng và các hoạt động kinh tế - xã hội theo kế hoạch. Do được xây dựng và
đưa vào vận hành từ năm 1973 nên đã lạc hậu, quá tải, hiện nay Petrolimex đang
triển khai nâng cấp đường ống và khai thác thương mại.[1]
Có thể nói rằng các hệ thống đường ống
Việt Nam
hiện hữu có nguồn gốc từ mục đích khai thác thương mại chỉ được xây dựng trong
quá trình thăm dò, khai thác dầu khí; đầu tiên hết là đường ống Nam Côn Sơn. Theo quy định của Luật Dầu khí và
Nghị định số 48/2000/NĐ-CP ngày 12-9-2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật Dầu khí, ngoại trừ liên doanh Vietsovpetro thành lập theo Hiệp định
ký kết giữa Việt nam với Liên Xô (cũ), các doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài khác, chỉ có thể tham gia hoạt động dầu khí thông qua
hợp đồng dầu khí ký kết với Petrovietnam, thường là đầu tư dưới hình thức hợp đồng
hợp tác kinh doanh (BCC) để thực hiện dự án. (Như dự án Nam Côn Sơn, Lô B-Ô
Môn.) Do vậy, các đường ống đã được xây dựng theo điều kiện và quy chuẩn của từng
dự án được phê duyệt. Có thể xem quy định nói trên của Luật Dầu khí và Nghị định
số 48/2000/NĐ-CP là quy định về điều kiện kinh doanh vận tải đường ống hiện
nay.
Về điều kiện tiêu chuẩn kỹ thuật bảo đảm
an toàn đường ống vận chuyển khí, dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ thì Nghị định số
13/2011/NĐ-CP ngày 12-02-2011 của Chính phủ về an toàn công trình dầu khí trên
đất liền quy định những điều kiện khá rõ ràng, chi tiết về:
- Tiêu chuẩn thiết kế độ dày thành đường ống;
độ sâu của đường ống đặt ngầm tối thiểu tính từ mặt bằng hoàn thiện tới đỉnh ống.
- Biện
pháp an toàn, đảm bảo các phương tiện thủy hoạt động không thể đâm, va vào đường
ống; các giải pháp kỹ thuật tăng cường chống rung động và va đập đối với đường ống
chôn ngầm chạy cắt ngang qua đường giao thông bộ hoặc đường sắt;
- Khoảng cách an toàn giữa hai đường ống
chôn ngầm đặt song song, hai đường ống liền kề (1 ống đặt ngầm, 1 ống đặt nổi),
đường ống chôn ngầm đặt xiên
Tóm lại, đối với điều
kiện kinh doanh dịch vụ vận tải đường ống phải tham chiếu quy định của pháp luật
chuyên ngành dầu khí. Với lợi điểm hiệu
quả, nhanh chóng, chi phí thấp, phương thức vận tải đường ống chắc chắn sẽ phát
triển hơn nữa trong tương lai không xa, vì vậy cần có những kiến nghị sửa đổi,
bổ sung pháp luật hiện hành cho phù hợp với xu thế chung.
Các đề xuất về phát
triển vận tải đường ống
Phương thức vận tải đường ống
ở nước ta chủ yếu dùng để vận chuyển khí và xăng dầu. Hệ thống đường ống hiện
nay được xây dựng trong quá trình thăm dò, khai thác dầu khí và được pháp luật
dầu khí điều chỉnh về điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, theo Quyết định số
337/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
thì hoạt động vận chuyển dầu, khí tự nhiên bằng đường ống được phân vào nhóm vận
tải, mã ngành 49300. Việc phân mã ngành như vậy là phù hợp và đúng với bản chất
của vận tải đường ống; bởi lẽ đường ống không chỉ để vận chuyển vật thể khí, vật
thể lỏng mà còn có thể dùng để vận chuyển các vật thể rắn như than, quặng.
Tuy có nhược điểm chi phí đầu tư cao, trở
thành mục tiêu dễ dàng bị đánh phá trong chiến tranh; nhưng vận tải
đường ống
có nhiều ưu điểm như chi phí điều hành thấp, an toàn, ít hao hụt và tổn
thất,
không gây ô nhiễm môi trường và trở ngại giao thông, không chiếm nhiều
đất và
không gian vì đường ống thường được chôn sâu khoảng 1m dưới lòng đất;
đặc biệt
loại hình vận tải này thích hợp với những mỏ nằm ở vùng sâu, vùng xa,
địa hình
phức tạp, hiểm trở. Trên thế giới có một số đường ống vận chuyển than,
quặng
như hệ thống 525km đường ống vận chuyển quặng sắt từ mỏ Minas – Rio (sản
lượng 26,5 triệu tấn/năm) đến cảng ở Açu-Brazil. Đường ống Savage River
ở
Tasmania-Australia dài 85km. Ở Veltins-Arena, một khu vực
chuyên về bóng đá ở Đức có một đường ống dài 5km vận chuyển bia cho các
quán
bar. Đây là cách thích hợp để đưa bia vào được các sân vận động lớn
trong các
trận đấu. Ở thành phố Randers
của Đan Mạch cũng có một hệ thống đường ống vận chuyển bia tương tự, gọi
là
Thor Pipeline. [2]
Hiện nay theo quy định của Nghị định
140/2007/NĐ-CP thì thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics không được
kinh doanh dịch vụ vận tải đường ống. Quy định này xét ra chỉ phù hợp cho giai
đoạn thăm dò, khai thác dầu khí ban đầu, và cũng chỉ trong lĩnh vực dầu khí mà
thôi. Xét ở góc độ là một dịch vụ vận tải, trong cơ chế thị trường, thì quy định
này không còn phù hợp nữa, nếu không muốn nói là khắc khe, đặt ra những hạn chế
thương mại bất hợp lý. Dịch vụ vận tải đường ống không chỉ vận chuyển dầu khí
mà còn có thể đáp ứng nhu cầu vận chuyển các vật chất thể lỏng, thể rắn khác
như than, quặng mỏ, thậm chí là bia như ở Đức, Đan Mạch. Dịch vụ vận tải đường ống mở ra
khả năng cho các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể tham gia khai
thác thương mại, đáp ứng được nhu cầu vận tải cho những chủng loại hàng hóa đặc
biệt và trong những hoàn cảnh, địa hình đặc biệt. Việc vận chuyển bô-xít khai
thác từ các mỏ ở Dak Lak, Lâm Đồng xuống đến các cảng biển dọc duyên hải miền
Trung và Miền Nam bằng đường bộ hiện nay đã gây ra hư hại đường sá nghiêm trọng
cho các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và đang bị chính quyền các địa phương
này phản đối gay gắt; phương án vận chuyển bằng đường ống là một trong những giải
pháp mà các chuyên gia đã từng gợi ý cho dự
án này.
Với những tính năng đặc biệt như vậy, đề
nghị có văn bản pháp luật quy định về điều kiện thành lập, hoạt động và các chế
định cơ bản về vận tải đường ống như là một phương thức vận tải chuyên ngành. Về
điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải đường ống thì nên theo hướng mở rộng, thu
hút đầu tư nước ngoài vào việc khai thác thương mại một ngành dịch vụ vận tải
đòi hỏi chi phí đầu tư lớn và kỹ thuật, công nghệ đặc biệt.
[1]Nguồn: Tổng hợp từ Website Petrovietnam – www.pvn.vn
. Website Petrolimex - www.petrolimex.com.vn
[2]
Nguồn: Wikipedia- Pipeline transport .
http://en.wikipedia.org/wiki/Pipeline_transport
Luật sư Nguyễn Công Thắng
Giám đốc Công ty Luật Thuận Đức - ThuanDucLaf
Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Vietnam Logistics Review - Ấn phẩm số Xuân 2012
http://vlr.vn/vn/news/van-tai/duong-bo/379/logistics-va-dich-vu-van-tai-duong-ong.vlr
http://vlr.vn/vn/news/van-tai/duong-bo/379/logistics-va-dich-vu-van-tai-duong-ong.vlr
Sáng ngày 26/11/2011, tại trụ sở Tạp chí Vietnam Logistics Review, Thạc sỹ Lê Văn Hỷ, Tổng biên tập Vietnam Logistics Review và Luật sư Nguyễn Công Thắng, Giám đốc Công ty Luật TNHH Thuận Đức - ThuanDucLaf đã ký kết hợp đồng hợp tác giữa hai đơn vị.
Theo đó, ThuanDucLaf sẽ đảm trách tư vấn pháp lý và đóng góp nội dung bài vở cho các chuyên mục pháp luật về dịch vụ logistics trên Vietnam Logistics Review hàng kỳ - Vietnam Logistics Review sẽ tạo điều kiện cho ThuanDucLaf như một đối tác chiến lược nhằm hỗ trợ ThuanDucLaf phát triển và nâng cao hoạt động, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật về dịch vụ logistics, quản trị chuỗi cung ứng, vận chuyển và mua bán hàng hóa quốc tế.
Hai bên có buổi trao đổi thân mật về định hướng phát triển
Tại buổi lễ ký kết, hai bên đã trao đổi về những định hướng phát triển trong ngắn hạn và dài hạn. Với tư cách Tổng biên tập Vietnam Logistics Review, một Tạp chí chuyên ngành về lĩnh vực giao nhận – kho vận, dịch vụ logistics và quản trị chuỗi cung ứng, Thạc sĩ Lê Văn Hỷ đánh giá cao và bày tỏ sự tin cậy vào năng lực của đội ngũ Luật sư, chuyên viên của THUANDUCLAF trong lĩnh vực pháp lý về logistics – một lĩnh vực dịch vụ thương mại mới mẻ và đang phát triển mạnh mẽ ở nước ta. Luật sư Nguyễn Công Thắng - Giám đốc ThuanDucLaf cam kết là người bạn đáng tin cậy của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Việc ký kết hợp đồng hợp tác đánh dấu một bước khởi đầu quan trọng trong mối quan hệ hợp tác tốt đẹp, lâu dài và bền chặt giữa hai bên.
THUANDUCLAF - NGƯỜI BẠN ĐÁNG TIN CẬY CỦA
THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS
Lâu nay vẫn đặt “Công ty Cổ phần ABCD”, nay muốn đặt thành “ABCD Công ty Cổ phần” có được không?
Dự thảo mới đây của Bộ KH&ĐT về tiêu chí đặt tên tập đoàn, tổng công ty có quy định về điều kiện đặt tên doanh nghiệp có chữ “tập đoàn”, “tổng công ty”. Dự thảo này cũng đưa ra hai cấu trúc đặt tên doanh nghiệp khi sử dụng các từ này.
Lâu nay chỉ một cách
Dự thảo này cho phép đặt tên theo cấu trúc: Loại hình doanh nghiệp + tổng công ty/tập đoàn + tên riêng của doanh nghiệp. Ví dụ Công ty Cổ phần Tập đoàn Thương mại và Dịch vụ ABCD. Đây là cách đặt tên doanh nghiệp thực tế hiện áp dụng.
Thế nhưng dự thảo này còn cho phép đặt theo cấu trúc ngược với thực tế hiện nay là “Tổng công ty/tập đoàn + tên riêng của doanh nghiệp + loại hình doanh nghiệp”. Ví dụ Tập đoàn Thương mại và Dịch vụ ABCD Công ty Cổ phần! Với cách đặt này thì chữ tập đoàn hay chữ tổng công ty gây ấn tượng hơn vì đứng đầu, đập vào mắt trước tiên, được đọc trước tiên.
Dự thảo nếu được ban hành thì sẽ có hình thức văn bản là quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Việc đưa ra cách đặt tên ngược nói trên hiện gây băn khoăn về tính chất pháp lý.
Làm thủ tục đăng ký kinh doanh tại sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM. Ảnh: HTD
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, tên doanh nghiệp gồm ít nhất hai thành tố, a) Loại hình doanh nghiệp và b) Tên riêng. Nghị định 43/2010 hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp thì quy định cụ thể hơn. Phần a sẽ bao gồm “công ty trách nhiệm hữu hạn”, “TNHH”, “công ty cổ phần”, “công ty CP”, “doanh nghiệp tư nhân”… Đây là các cụm từ chỉ loại hình doanh nghiệp. Trong phần tên riêng có thể có thêm các từ chỉ ngành, nghề kinh doanh, hình thức đầu tư. Tuy nhiên, doanh nghệp có đăng ký ngành nghề thì mới được sử dụng từ đó để đưa vào tên riêng.
Ví dụ tên của một doanh nghiệp cụ thể như sau: Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ ABCD. Trong đó, “công ty cổ phần” là loại hình doanh nghiệp, tên riêng là “Thương mại và Dịch vụ ABCD”, trong đó các từ “thương mại” và “dịch vụ” là từ chỉ ngành nghề hoạt động.
Lâu nay doanh nghiệp vẫn đặt tên theo cấu trúc này.
Vấn đề ở đây là nếu đặt ngược như dự thảo cho phép thì liệu có trái với Luật Doanh nghiệp hay không?
Cục Quản lý Đăng ký Kinh doanh (Bộ KH&ĐT) cho biết hiện có hai luồng quan điểm. Luồng không đồng thuận thì cho rằng Luật Doanh nghiệp quy định hai thành tố “a” và “b”, như vậy khi đặt tên doanh nghiệp thì “a” đứng trước “b”.
Luồng đồng thuận thì cho rằng Luật Doanh nghiệp quy định hai thành tố “a” và “b” nhưng không có quy định nào về việc thành tố “a” phải đứng trước thành tố “b”, cho nên đặt a-b hay b-a thì đều được cả, miễn sao không thiếu thành tố nào.
Cục cũng cho biết đây là dự thảo và đang tiếp nhận ý kiến đóng góp.
Cho ngược thì… rối!
Vậy thì vấn đề tiếp theo là khi hiểu Luật Doanh nghiệp theo cách “ngược xuôi đều được cả”, chấp nhận cả a-b lẫn b-a, thì không riêng gì các tập đoàn, tổng công ty mới được đặt theo cấu trúc này mà phải thấy rằng tất cả doanh nghiệp đang đặt tên theo Luật Doanh nghiệp sẽ đều có quyền đặt theo kiểu “ABCD Công ty Cổ phần”!
Vậy thì vấn đề tiếp theo là liệu nền kinh tế có thể dung nạp hàng trăm ngàn doanh nghiệp tên xuôi, kèm theo hàng trăm ngàn doanh nghiệp tên ngược hay không? Và giải quyết thế nào nếu có một công ty cổ phần ABCD lại có thêm một ABCD công ty cổ phần?
Luật sư Trần Thanh Tùng, Công ty Luật Phước & Partners, cho rằng thực tế đều đang đặt tên doanh nghiệp bằng tiếng Việt theo cách xuôi, tên tiếng Anh đi kèm và tên viết tắt thì được doanh nghiệp đặt theo ngữ pháp tiếng Anh. Ông Tùng cho rằng hiểu Luật Doanh nghiệp theo cách nào cũng được nhưng phải áp dụng thống nhất cho toàn bộ doanh nghiệp chứ không thể cho phép tập đoàn thì được, còn doanh nghiệp khác thì không. Tuy nhiên, ông Tùng cho rằng cần phải tôn trọng thực tế. Thực tế lâu nay doanh nghiệp vẫn đặt chỉ một cách xuôi. “Ngay ngày mai thử đi đăng ký thành lập một doanh nghiệp có tên ngược xem có Sở KH&ĐT nào giải quyết không thì biết!”.
| Tiếng Anh cũng viết được bằng tiếng Việt Cũng liên quan đến đặt tên doanh nghiệp, quy định của Luật Doanh nghiệp là “phải viết được bằng tiếng Việt”. Như thế nào là viết được bằng tiếng Việt thì chưa rõ ràng. Đến Nghị định 43/2010 về đăng ký doanh nghiệp thì hướng dẫn là viết được bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, có thể kèm theo các chữ cái F, J, Z, W. Có vẻ hơi “nghịch” với Luật Doanh nghiệp nhưng đây là một quy định thông thoáng và tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp vì theo đó, doanh nghiệp có thể đặt tên riêng là các từ tiếng Anh. |
QUỲNH NHƯ
Theo Báo Pháp luật TP.HCM online
http://phapluattp.vn/20111128113841748p1014c1071/dat-ten-doanh-nghiep-theo-kieu-nguoc.htm
Ngày càng nhiều người muốn khai sinh cho con theo họ mẹ, trong khi có đủ cả cha. Liệu pháp luật có cho phép và phải làm thủ tục như thế nào?
| Ảnh minh họa |
Tự ý đổi họ cho con
Khi chị Nguyễn Thị Bích Huyền (Đống Đa, Hà Nội) sinh cháu thứ hai, bố mẹ đẻ của chị rất muốn vợ chồng chị khi đi đăng ký khai sinh cho cháu sẽ mang họ và dân tộc của chị Huyền là họ Nông và dân tộc Tày (theo họ và dân tộc của ông ngoại).
Trong thâm tâm, chị Huyền rất muốn chiều theo nguyện vọng này của ông bà ngoại, chị còn tính sau này đi học cháu sẽ được hưởng một số chính sách ưu tiên của nhà nước với người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, anh Hùng chồng chị thì nhất định không chịu, anh cho rằng việc để cháu mang họ của mẹ là một việc “trái quy luật”, xúc phạm đến anh và gia đình anh.
Khác với chị Huyền, chị Dương Thị T. ở Đan Phượng, Hà Nội đã ly hôn với chồng được hai năm nay. Lý do đòi ly hôn của anh này vì anh nghi ngờ chị T. có quan hệ với người đàn ông khác và đứa trẻ sinh ra không phải là con anh. Mặc dù để chứng minh Tòa án đã trưng cầu giám định ADN và kết quả cho thấy cháu bé cùng huyết thống nhưng anh này vẫn không chịu. Bản án ly hôn có hiệu lực, số tiền chu cấp cho con hàng tháng, anh này không thực hiện.
Tệ hơn, anh này luôn đi rêu rao với xóm làng về “nhân cách” của vợ cũ mình khiến chị T. rất bức xúc. Gần đây chị T. đến UBND xã đề nghị đổi họ cho con trai từ họ của chồng sang họ của chị, nhưng UBND xã chưa giải quyết vì cho rằng việc đổi họ phải có ý kiến của cha. Trong khi chị T. thì cho rằng không cần phải có ý kiến của chồng cũ vì việc mang họ cha làm ảnh hưởng đến cuộc sống của chị. Và đây là “lý do chính đáng” theo quy định của Bộ luật dân sự nên xã phải giải quyết cho con chị được mang họ mẹ.
Phải có sự đồng ý của cha?
Theo quy định tại điều 29, Bộ luật Dân sự (BLDS) cá nhân có quyền thay đổi họ, tên trong các trường hợp: Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của mình; Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con; Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại…
Tiết e, điểm 1, mục II Thông tư 01 của Bộ Tư pháp ngày 2/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định 158 cũng chỉ rõ: Khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ. Trong trường hợp đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không có quyết định công nhận việc nhận cha cho con, thì họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người mẹ.
Như vậy, pháp luật cho phép trẻ em sinh ra có thể mang họ của người mẹ, không bắt buộc phải theo họ cha, nhưng vấn đề là cần có sự thỏa thuận của hai bên cha, mẹ. Nếu một bên không đồng ý (ví dụ người cha) thì việc đổi họ rất khó khăn, nếu không nói là không thể thực hiện được.
Việc khai họ cho con giờ đây đã không còn dập khuôn theo kiểu nhất định phải mang họ cha. Nhiều gia đình lại muốn đứa trẻ được khai sinh theo họ mẹ vì nhiều lý do khác khau. Tuy nhiên, mắc nhất vẫn là nhiều người (kể cả cha, mẹ) nhận thức chưa đầy đủ nên đã “nghiêm trọng hóa vấn đề” như trường hợp của chị Huyền nói trên.
| * Người đi đăng ký khai sinh phải nộp giấv chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn). Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn. (Khoản 1 Điều 15 Nghị định 158/CP về đăng ký và quản lý hộ tịch) * Khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ. (Trích Thông tư 01 của Bộ Tư pháp ngày 2/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định 158/CP) |
Hương Bằng
Báo Pháp luật Việt Nam điện tử
http://phapluatvn.vn/tuphap/201111/Khai-sinh-cho-con-theo-ho-me-duoc-khong-2060937/
Công an huyện đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nhưng sau đó hủy bỏ.
Ông T. (xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn, TP.HCM) phản ánh: Tháng 8-2005, ông có mua giấy tay một căn nhà của bà H. với giá 428 triệu đồng. Sau đó, bà Hà đem căn nhà này bán tiếp cho người khác và công an huyện đã khởi tố vụ án hình sự nhưng thời gian sau lại hủy bỏ quyết định khởi tố.
Lừa dối người khác
Ông T. kể: Sau khi ông giao 400 triệu đồng thì bà H. giao cho ông bộ hồ sơ công chứng hợp đồng mua bán nhà giữa bà H. với chủ trước nhưng không giao bản chính giấy chủ quyền nhà, đất. Bà hẹn khi đi công chứng sẽ giao giấy cho ông. Nhưng rồi bà tìm cách né tránh không thực hiện cam kết. Nghi ngờ có khuất tất, ông đi tìm hiểu thì mới biết bà H. đã thế chấp giấy chứng nhận cho người khác để vay tiền.
Tháng 3-2006, sau khi được bà H. ra công chứng ký hợp đồng bán nhà, người cho vay đã làm xong thủ tục sang tên nhà. Ấy thế, bà H. đã giấu nhẹm việc này và còn đề nghị ông cho mượn 150 triệu đồng để bà chuộc giấy nhưng ông không đồng ý. Tiếp nữa, người cho vay đã tiếp tục bán nhà cho người khác và người này cũng đã sang tên vào tháng 11-2007.
Cho rằng bà H. có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì có một căn nhà mà bán cho hai người, ông T. đã gửi đơn tố giác.
Tòa nói hình sự, viện bảo dân sự
Cuối năm 2007, người cho vay đã kiện bà H. ra tòa để yêu cầu bà giao căn nhà đã bán. Bấy giờ, người mua sau cùng và ông T. được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trong quá trình tòa thụ lý, bà H. khai: “Chỉ bán nhà cho ông T. nhưng do vay nợ mà không trả được nên mới đi công chứng hợp đồng bán nhà cho chủ nợ”.
Đến cuối năm 2008, xét thấy bà H. có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản, TAND huyện đã chuyển hồ sơ vụ án cho VKSND huyện Hóc Môn để nơi đây xem xét, xử lý hình sự. Đầu năm 2010, TAND huyện tiếp tục có công văn kiến nghị cơ quan điều tra huyện xem xét khởi tố vụ án.
Tháng 6-2010, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã ra quyết định khởi tố vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên, cho rằng việc mua bán nhà giữa ông T. và bà H. đơn thuần là giao dịch dân sự, VKSND huyện đã yêu cầu công an huyện hủy bỏ quyết định khởi tố nói trên và công an huyện đã chấp nhận. Không đồng tình với cách xử lý này, ông T. đã khiếu nại đến VKSND TP.HCM.
Trao đổi với PV, ông Bùi Xuân Tứ, Viện trưởng VKSND huyện Hóc Môn, cho biết: “Chúng tôi đã chuyển hồ sơ đến VKSND TP xin ý kiến chỉ đạo nhưng đến nay chưa nhận được phản hồi”.
| Nên thống nhất cách xử lý Có lẽ vì ngại khởi tố, truy tố, xét xử sai dẫn đến việc phải bồi thường thiệt hại theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nên trong những trường hợp mà dấu hiệu hình sự và dân sự đan xen nhau, các cơ quan tố tụng hay chuyển sang xử lý dân sự. Dẫu lý do nào thì cũng phải xác định rằng việc một người cố ý mang một tài sản có giá trị lớn bán cho nhiều người để thu nhận số tiền lớn là hành vi trái pháp luật, cần bị xử lý nghiêm để có tác dụng ngăn ngừa, đảm bảo trật tự xã hội. Thực tế vừa qua cho thấy cùng loại vụ việc có nội dung tương tự (tức có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản) nhưng có vụ bị xử lý hình sự, có vụ được xử lý dân sự. Cách xử lý nào đúng pháp luật và phải làm sao để hạn chế bất nhất, tùy tiện, dựa trên cảm tính để giải quyết vấn đề? Theo tôi, do thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi và gây tác hại lớn nên các cơ quan công an, tòa án, VKS cấp trung ương cần có hướng dẫn liên ngành về việc này. Trong đó, phải xác định các tiêu chí cụ thể để nhận diện các vụ việc tuy có dấu hiệu gian dối nhưng đơn thuần là dân sự, vụ nào nhất thiết phải xử hình sự. Luật sư TÔ NGỌC MINH TUẤN, Đoàn Luật sư TP.HCM |
KIM PHỤNG
Báo Pháp luật TP.HCM online
http://phapluattp.vn/20111124104756994p0c1027/mot-can-nha-ban-cho-hai-nguoi-toa-noi-lua-dao-vien-bao-khong.htm
Với việc ban hành Luật Nuôi con nuôi (NCN) và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, lần đầu tiên đã có các quy định pháp lý để công khai, minh bạch việc thu, nộp, quản lý và sử dụng các khoản lệ phí, chi phí liên quan đến việc NCN nước ngoài. Tuy nhiên, cũng vì mới nên quá trình triển khai không thực sự được thuận lợi, thậm chí có nơi còn... ngại làm.
Đã phân bổ cụ thể, rõ ràng
Được ban hành ngày 21/3/2011, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật NCN, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP đã quy định rõ ràng các vấn đề về mức thu lệ phí đăng ký NCN, lệ phí cấp, gia hạn, sửa đổi giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam, chi phí giải quyết NCN nước ngoài; cơ quan thu lệ phí, chi phí; chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí, chi phí...
Đặc biệt, về chế độ sử dụng các khoản lệ phí, chi phí nêu trên, Nghị định 19 đã quy định rất rõ các nội dung hoạt động đặc thù được sử dụng lệ phí, chi phí mà không cần chờ tới thông tư. Cụ thể, Cục Con nuôi được sử dụng 50% mức lệ phí đăng ký NCN nước ngoài, 5% mức chi phí giải quyết NCN nước ngoài và toàn bộ lệ phí cấp, gia hạn, sửa đổi giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam; Sở Tư pháp được sử dụng 50% mức lệ phí đăng ký NCN nước ngoài, 5% mức chi phí giải quyết NCN nước ngoài (riêng trường hợp trẻ em bị bỏ rơi cần xác minh của Công an tỉnh thì Sở Tư pháp chuyển mức chi phí này cho Công an tỉnh); Cơ sở nuôi dưỡng trẻ em được sử dụng 85% mức chi phí giải quyết NCN nước ngoài, trong đó có tới 70% mức chi phí được sử dụng để phục vụ cho trẻ em.
Như vậy, các quy định trên đây cho thấy việc thu, phân bổ sử dụng lệ phí và chi phí giải quyết NCN nước ngoài đã được quy định rõ ràng, khắc phục về cơ bản tình trạng bất cập đã tồn tại nhiều năm qua ở nước ta. Các cơ quan liên quan được sử dụng phần phân bổ lệ phí, chi phí phải bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả theo quy định của Nghị định số 19.
Ngại lập hồ sơ cho trẻ
Tuy nhiên, qua phản ánh của các địa phương cho thấy, khó khăn lớn nhất trong việc triển khai thực hiện Luật NCN là ở khâu lập dự toán để sử dụng khoản chi phí giải quyết NCN nước ngoài theo quy định của Luật NCN và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP.
Chẳng hạn, trong việc điều chuyển cho ngân sách địa phương khoản tiền bù đắp chi phí giải quyết việc NCN nước ngoài, nhiều địa phương hiểu không thống nhất nên dẫn đến tình trạng cho đến nay vẫn chưa thông báo cho Cục Con nuôi tên chủ tài khoản tiếp nhận khoản chi phí giải quyết NCN nước ngoài. Nhiều cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đang gặp khó khăn trong việc triển khai thi hành Luật vì lý do các cơ quan, ban, ngành trong tỉnh... chưa thống nhất được về cách thức chuyển cho cơ sở nuôi dưỡng phần kinh phí họ được sử dụng từ nguồn tiền bù đắp chi phí giải quyết việc NCN nước ngoài. Có cơ sở nuôi dưỡng còn cho rằng mặc dù họ được nhận khoản chi phí này, song lại bị trừ vào phần ngân sách do tỉnh cấp hàng năm.
Tình trạng trên dẫn đến hậu quả là, nhiều cơ sở nuôi dưỡng trẻ em không chủ động lập hồ sơ cho trẻ và cũng như không thông báo cho Sở Tư pháp danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế theo quy định của pháp luật, thậm chí đã có một số trẻ em bị bệnh chết do cơ sở nuôi dưỡng không đủ kinh phí để chăm sóc sức khỏe cho các cháu. Hầu hết các tỉnh đang chờ hướng dẫn của Bộ, nhất là về việc mở tài khoản tại sở, ban hoặc ngành của tỉnh để nhận khoản chi phí do Cục Con nuôi chuyển về, cách thức sử dụng khoản chi phí, chế độ thanh quyết toán.
| Cục trưởng Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp Nguyễn Văn Bình: Cần sớm thống nhất về cách hiểu “Nguyên nhân của những e ngại trên là do địa phương chưa thông suốt về bản chất khoản chi phí giải quyết NCN nước ngoài. Khoản tiền được trích lại từ chi phí giải quyết NCN nước ngoài (5% tức 2,5 triệu đồng) thực chất là khoản tiền do cha mẹ nuôi nước ngoài đóng góp, để bù đắp một phần chi phí giải quyết việc NCN nước ngoài, chứ không phải là phí và lệ phí, không phải là nguồn thu của ngân sách nhà nước. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra là cần kiểm tra các cơ quan, tổ chức ở địa phương có sử dụng đúng mục đích và hiệu quả khoản chi phí này không. Về nguyên tắc, Cục Con nuôi có trách nhiệm báo cáo công khai, minh bạch cho Ban thường trực Hội nghị La Haye - cơ quan theo dõi thi hành Công ước La Haye về bảo vệ trẻ em và hợp tác quốc tế về NCN - và các Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế của các nước, cũng như công khai và minh bạch với các tổ chức con nuôi nước ngoài và cha mẹ nuôi nước ngoài về khoản thu này khi có yêu cầu |
Báo Pháp luật Việt Nam điện tử
http://phapluatvn.vn/tuphap/201109/Giai-quyet-nuoi-con-nuoi-nuoc-ngoaiach-vi-chi-phi-bu-dap-2058506/








