Trong hoạt động của doanh nghiệp, một trong những vấn đề doanh nghiệp hay gặp đó là vấn đề tính lãi do chậm thanh toán. Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định về vấn đề này như thế nào ?
Theo pháp luật hiện hành, vấn đề này được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 và Luật thương mại 2005.
A. Quan hệ dân sự có một bên hoặc các bên tham gia không nhằm mục đích lợi nhuận (VD: mục đích tiêu dùng,…) (không phải là quan hệ kinh doanh thương mại): Đối với quan hệ này, Bộ luật dân sự 2005 được áp dụng.
1. Nếu mua hàng, chậm thanh toán:
Lãi do chậm thanh toán = lãi suất cơ bản
(Khoản 438.2 và 305.2 Bộ luật dân sự 2005)
2. Đối với khoản vay chậm thanh toán:
a. Không tính lãi: Lãi do chậm thanh toán = lãi suất cơ bản (Khoản 474.4 Bộ luật dân sự 2005)
b. Có tính lãi: Lãi do chậm thanh toán = lãi suất nợ quá hạn (Khoản 474.5 Bộ luật dân sự 2005)
3. Lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố
(Khoản 476.1)
B. Quan hệ dân sự mà các bên tham gia giao dịch đều nhằm mục đích lợi nhuận (quan hệ kinh doanh thương mại): Áp dụng quy định của Luật thương mại 2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006:
Điều 306 Luật thương mại 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Như vậy, Luật thương mại 2005 cho phép các bên thoả thuận về mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ chậm thanh toán. Nếu các bên không có thoả thuận, thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Do hiện nay, theo quy định tại Điều 1 Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN (“Quyết định 546”), NHNN cho phép thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng Đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. NHNN chỉ ban hành lãi suất cơ bản để các tổ chức tín dụng làm cơ sở cho việc xác định lãi suất cho vay.
Mặt khác theo điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.
Bên cạnh đó, theo Quyết định số 197/1997/QĐ-NHNN (“Quyết định 197”), lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % mức trần lãi suất cho vay cùng loại. Hiện nay, Quy định này tuy có phần không phù hợp do Quyết định 546 trong đó cho phép thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận, nhưng hiện chưa có văn bản nào thay thế hoặc huỷ bỏ và trên thực tế hoạt động của các ngân hàng, mức lãi suất nợ quá hạn áp dụng cũng không vượt quá 150 % mức trần lãi suất cho vay.
Như vậy, vô hình chung, nếu các bên không có thoả thuận về lãi suất đối với khoản nợ hoặc thoả thuận với mức lãi suất cao hơn 150% lãi suất cơ bản do NHNN quy định tại thời điểm tính lãi suất thì mức lãi suất nợ quá hạn áp dụng đối với khoản nợ chậm thanh toán tối đa là 150% x 150% x lãi suất cơ bản do NHNN quy định.
Trên thực tế, để tính được mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường, thông thường, chúng ta phải lấy mức lãi suất nợ quá hạn được công bố của ít nhất 03 ngân hàng đang hoạt động để tính ra mức lãi suất nợ quá hạn trung bình.
Trường hợp không xác định được mức lãi suất nợ quá hạn cụ thể áp dụng tại một số tổ chức tín dụng, ta có thể áp dụng mức lãi suất gần với mức lãi suất nợ quá hạn tối đa.
II. Những điểm cần lưu ý liên quan đến vấn đề lãi do chậm thanh toán:
- Áp dụng luật dân sự hay luật thương mại để tính lãi do chậm thanh toán?
Hoạt động kinh doanh thương mại cũng được xem là một hình thức hoạt động trong lĩnh vực dân sự và nó cũng bị điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, đối với hoạt động kinh doanh thương mại, nhà nước ban hành Luật Thương mại để điều chỉnh riêng cho hoạt động này. Do đó, Luật thương mại được ưu tiên áp dụng để điều chỉnh các quan hệ kinh doanh thương mại. Bộ luật Dân sự chỉ được áp dụng khi Luật thương mại không có quy định điều chỉnh. Ở đây, do Điều 306 Luật Thương mại đã quy định về lãi do chậm thanh toán nên sẽ được ưu tiên áp dụng để tính lãi cho các quan hệ kinh doanh thương mại. Còn Bộ luật dân sự được áp dụng cho các giao dịch dân sự không mang tính thương mại.
- Mức lãi suất nợ quá hạn không phải là mức lãi suất tối đa (150% x 150% x lãi suất cơ bản). Lãi suất nợ quá hạn gắn liền với lãi suất cơ bản. Mà lãi suất cơ bản do NHNN ban hành thay đổi theo từng thời điểm. Do đó, việc tính tiền lãi do chậm thanh toán cũng sẽ được tính theo từng mốc lãi suất cơ bản do NHNN ban hành trong thời gian tính lãi.
- Lãi suất cho vay do các bên thoả thuận, do đó, mức lãi suất cho vay cụ thể của các tổ chức, cá nhân sẽ không thống nhất. Vì vậy mức lãi suất nợ quá hạn cũng không thống nhất.
- Tiền lãi do chậm thanh toán và phạt vi phạm hợp đồng:
Trong Luật Thương mại, xét về mặt hình thức, không có khái niệm “tiền lãi phạt” mà chỉ có khái niệm “tiền lãi do chậm thanh toán” và khái niệm “phạt do vi pham hợp đồng”. Cần phải phân biệt hai khái niệm này.
§ Phạt vi phạm: Theo Điều 300 Luật Thương mại, phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận. Bên bị vi phạm chỉ có thể tính tiền phạt khi có thoả thuận trong hợp đồng (Điều 307 Luật Thương mại). Mức phạt do vi phạm hợp đồng tối đa là 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (Điều 301 Luật thương mại).
§ Tiền lãi do chậm thanh toán: Theo điều 306 Luật Thương mại, trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả . Việc tính tiền lãi do chậm thanh toán này không phụ thuộc vào việc các bên có thoả thuận việc tính tiền lãi hay không. Nếu các bên có thoả thuận, và mức lãi suất không vượt quá mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán thì sẽ áp dụng mức lãi suất thoả thuận. Nếu các bên không có thoả thuận thì áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường.
Trên thực tế, trong các giao dịch, doanh nghiệp thường không phân biệt được hai khái niệm này, nên trong hợp đồng thường quy định đại loại như: nếu chậm thanh toán thì chịu mức lãi phạt tương đương a %... Với quy định như vậy, rất khó có thể xác định rõ đây là tiền lãi do chậm thanh toán hay là tiền phạt do vi phạm hợp đồng. Khi có tranh chấp, toà án có thể xem đây là tiền lãi do chậm thanh toán và cũng có thể xem đây là tiền phạt do vi phạm hợp đồng.
Luật sư PHẠM MINH HOÀNG
Quy định về việc cho thuê doanh nghiệp tư nhân vẫn còn nhiều điểm bất cập gây khó khăn cho chủ doanh nghiệp.
Quy định về cho thuê doanh nghiệp tư nhân trong Luật Doanh nghiệp còn nhiều điểm bất cập, dung túng cho bên thuê vi phạm pháp luật.
Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được Quốc hội khóa 11 thông qua vào ngày 29 tháng 11 năm 2005 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006, là một nỗ lực đáng ghi nhận nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật để Việt Nam gia nhập cộng đồng thương mại thế giới. Tuy nhiên, làm luật mà vội vàng thì không tránh khỏi những bất cập, thiếu sót .
Quy định chưa rõ ràng
Chương 6 của Luật Doanh nghiệp 2005 đề cập đến loại hình doanh nghiệp tư nhân, vỏn vẹn khiêm tốn chỉ có 5 điều rất cô đọng, ngắn gọn từ Điều 141 đến Điều 145. Điều 141 định nghĩa về doanh nghiệp tư nhân, Điều 142 nói về vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp, Điều 143 nói về quản lý doanh nghiệp, Điều 144 quy định về cho thuê doanh nghiệp và cuối cùng là Điều 145 quy định về bán doanh nghiệp.
Điều 144 của Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình…”. Nhưng bên thuê là ai, cá nhân đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng không đăng ký kinh doanh có được thuê doanh nghiệp tư nhân để tiến hành hoạt động kinh doanh hay không, hay phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh mới được thuê? Việt kiều có được thuê? Người nước ngoài có được thuê? Tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân trong nước hay nước ngoài có được thuê? Thực tế, là Nhà nước chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn chi tiết về bên thuê là những ai. Do vậy, chủ doanh nghiệp và cơ quan quản lý về đăng ký kinh doanh rất lúng túng, băn khoăn khi gặp phải những tình huống như trên.
Luật quy định phải cho thuê toàn bộ doanh nghiệp. Nhưng nếu đặt câu hỏi với nhà làm luật rằng tại sao cứ phải là cho thuê toàn bộ? Xuất phát từ nhu cầu thực tế của hoạt động kinh doanh, bên thuê chỉ muốn thuê một phần doanh nghiệp, tại những địa điểm thuận lợi cho việc kinh doanh của họ? Chủ doanh nghiệp có thể cho thuê một phần doanh nghiệp có được không? Lý do tại sao mà luật lại quy định “cứng” như vậy? Quy định như vậy có làm hạn chế quyền định đoạt của chủ doanh nghiệp tại khoản 1 điều 143 không? Có làm mất cơ hội kinh doanh của các bên? Ai sẽ gánh chịu những tổn thất lẽ ra không đáng có?...
Theo đó, Luật cũng chưa tiên liệu tính đến vấn đề bất cập này, mặc dù trên thực tế vẫn có xảy ra, gây khó khăn bế tắc cho chủ doanh nghiệp và cơ quan tiếp nhận đăng ký kinh doanh.
Nặng tính áp đặt
Đoạn kế tiếp của Điều 144 quy định như sau: ”…Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp…” Về mặt kỹ thuật lập pháp từ “vẫn” từ “phải“ nghe có vẻ rất nặng nề, mang tính áp đặt ý chí, bắt buộc, cưỡng chế của Nhà nước, dường như cơ quan soạn thảo có ý muốn nhấn mạnh, khuyến cáo đối với chủ doanh nghiệp cần hết sức lưu ý, cân nhắc, đắn đo, suy nghĩ thật kỹ lưỡng, “bút sa gà chết”, trước khi cho ai đó thuê doanh nghiệp của mình? Vấn đề đặt ra là khi bên thuê đang tiến hành hoạt động kinh doanh, mà có xảy ra vi phạm hành chính như bị phạt tiền, bị truy thu thuế, bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì phạm vi trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong trường hợp này sẽ ra sao? Có giới hạn hay không, có trường hợp nào chủ doanh nghiệp được loại trừ hoàn toàn trách nhiệm không? Hay loại trừ có mức độ hay phải liên đới cùng chịu trách nhiệm chung với bên thuê kể cả khi người chủ doanh nghiệp không hề có lỗi, không biết gì về hành vi vi phạm pháp luật của bên thuê?
Hiểu theo nghĩa nào đó nhà làm luật “vô tình” bảo vệ dung túng cho bên thuê vi phạm pháp luật “khuyến khích” bên thuê cứ việc vi phạm pháp luật, mà không sợ bị pháp luật trừng trị vì đã có anh chủ doanh nghiệp gánh chịu trách nhiệm thay, quả là “quýt làm cam chịu”, bắt tội oan anh chủ doanh nghiệp là không hợp lý và cũng chẳng hợp tình. Đôi khi chính bên thuê, họ cũng ý thức được sai phạm và muốn tự nhận lãnh trách nhiệm trước pháp luật do hành vi vi phạm của mình nhưng cũng không thể được, vì luật chỉ “quy chụp” đến trách nhiệm của anh chủ doanh nghiệp, chẳng để họ có quyền tự thỏa thuận với nhau theo tinh thần “ai làm nấy chịu“ theo như hợp đồng. Nếu hiểu theo văn từ, mặc dù đã cho thuê, chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu mọi trách nhiệm pháp lý liên quan đến doanh nghiệp của mình, pháp luật xem như không hề có sự thuê mướn này. Đây là điều trái với nguyên tắc pháp lý thông thường trong việc cho thuê tài sản nên khó có thể chấp nhận được. Rủi ro bao giờ cũng thuộc về chủ doanh nghiệp.
Như vậy, chủ doanh nghiệp sẽ xua tay và nói không với việc cho thuê doanh nghiệp của mình. Kết quả là luật có cũng như không, không thể áp dụng được. Bởi lẽ, luật còn xa rời thực tế. Như vậy, trong khi chờ đợi để có những điều luật hợp lý, chỉ có chủ doanh nghiệp tư nhân là người phải chịu thiệt thòi nhiều nhất do quy định bất hợp lý của điều luật này. DN&PL
LS ĐÀO DUY TÂN
Thuan Duc Law Firm
Bài viết được đăng trên Tạp chí Doanh nhân và pháp luật
(http://doanhnhanphapluat.vn/index.php/phap-luat/vn-phong-lut/708-cho-thue-doanh-nghiep-tu-nhan-con-do-nhung-bat-cap-.html)
THS. TỐNG CÔNG CƯỜNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4 (41) NĂM 2007
Đình chỉ là một phương
thức xử lý đặc biệt của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân
sự. Trước đây, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế hay Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các tranh chấp lao động chỉ quy định một loại đình chỉ duy nhất là
đình chỉ giải quyết vụ án dưới hình thức “Quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án”.[1]
Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định
nhiều loại đình chỉ khác nhau tương ứng với từng giai đoạn tố tụng và
từng loại căn cứ khác nhau, theo đó Tòa án sẽ ra nhiều loại quyết định
đình chỉ khác nhau: đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ
thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm, đình chỉ
xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, quy
định trong BLTTDS về tính chất, căn cứ, hình thức quyết định của các
loại đình chỉ nêu trên cũng chưa thật sự rõ ràng, cụ thể, dẫn đến có
nhiều vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật tố
tụng dân sự. Bài viết này phân tích về các loại đình chỉ trong tố tụng
dân sự theo quy định của BLTTDS hiện hành.
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại thủ tục sơ thẩm
Tính chất của loại đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
này là chấm dứt hoạt động tố tụng. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
trong thủ tục sơ thẩm là một phương thức giải quyết vụ án dân sự. Bởi
vì, một vụ án dân sự sẽ được giải quyết qua một trong ba phương thức là
hòa giải thành công, đình chỉ giải quyết vụ án và mở phiên tòa xét xử.[2]
Các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án được quy định cụ thể tại Điều 192
BLTTDS bao gồm: (i) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền,
nghĩa vụ của họ không được thừa kế; (ii) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể
hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế
thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; (iii) Người khởi
kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện
không có quyền khởi kiện; (iv) Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện
trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp
tục giải quyết vụ án; (v) Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu
Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án; (vi) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp
lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; (vii) Đã có quyết định của Tòa án
mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự
trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; (viii) Các trường hợp khác mà pháp luật
có quy định.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 192 BLTTDS còn viện dẫn
các căn cứ đình chỉ được quy định tại Điều 168 BLTTDS về những trường
hợp trả lại đơn khởi kiện. Cụ thể, trước khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý
vụ án mà phát hiện những căn cứ quy định tại Điều 168 BLTTDS thì Tòa án
phải trả lại đơn khởi kiện, tuy nhiên, nếu vì một lý do nào đó mà Tòa án
đã thụ lý rồi mới phát hiện những căn cứ đó thì phải đình chỉ giải
quyết vụ án. Những căn cứ được quy định tại Điều 168 bao gồm: (i) Thời
hiệu khởi kiện đã hết; (ii) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện
hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; (iii) Sự việc đã được
giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ
trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con,
thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản
cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa
chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; (iv) Hết thời hạn
được thông báo để nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không nộp
hoặc không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do
chính đáng; (v) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện; (vi) Vụ án không thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Cụ thể hóa những căn cứ nêu trên trong BLTTDS, Tòa án
nhân dân tối cao đã có nghị quyết hướng dẫn cụ thể về nội dung của từng
căn cứ.[3] Tuy nhiên, cần lưu ý đối với căn cứ “vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”
thì không phải trong mọi trường hợp sau khi thụ lý vụ án nếu phát hiện
không thuộc thẩm quyền thì Tòa án cấp sơ thẩm sẽ đình chỉ giải quyết vụ
án, mà tùy từng trường hợp không thuộc thẩm quyền, Tòa án có thể chuyển
vụ án cho Tòa án khác giải quyết, vẫn tiến tục giải quyết vụ án nhưng phải ghi ký hiệu loại án cho phù hợp hoặc đình chỉ giải quyết vụ án.[4] Còn đối với căn cứ “hết
thời hạn được thông báo để nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện
không nộp hoặc không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp
có lý do chính đáng” thì về mặt từ ngữ, không thể áp dụng là căn
cứ đình chỉ giải quyết vụ án, bởi vì lúc này Tòa án chưa thụ lý vụ án.
Mà căn cứ này cần phải được hiểu là, nếu đương sự không nộp tiền tạm ứng
án phí mà không thuộc trường hợp không phải nộp hoặc được miễn án phí
nhưng Tòa án đã thụ lý giải quyết thì sau đó phải đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự.
Về thời điểm áp dụng, đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự trong thủ tục sơ thẩm được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng từ sau khi Tòa
án thụ lý sơ thẩm giải quyết vụ án đến trước khi ra bản án, quyết định
sơ thẩm. Nói cách khác, Tòa án cấp sơ thẩm có thể đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa sơ thẩm.
Tuy nhiên, nhận định này rút ra từ suy luận trong các Điều luật tương
ứng bởi lẽ BLTTDS không có một quy định cụ thể nào về thời điểm áp dụng
đình chỉ giải quyết vụ án. Đó là Điều 192 BLTTDS trong phần “Chuẩn bị
xét xử sơ thẩm” quy định về đình chỉ giải quyết vụ án là “sau khi thụ lý vụ án…”, và Điều 210 BLTTDS trong phần “Phiên tòa sơ thẩm” quy định “đình chỉ giải quyết vụ án… được thông qua tại phòng nghị án”.
Hình thức của việc đình chỉ giải quyết vụ án trong
thủ tục sơ thẩm là Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Nội
dung, mẫu quyết định này đã được quy định cụ thể tại Nghị quyết số
02/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo quy
định tại khoản 1 Điều 194 BLTTDS thì thẩm quyền ra quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự thuộc về thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án đó. Điều luật này không quy định rõ thẩm phán có thẩm quyền ra quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn nào của quá trình
tố tụng, nhưng thực tế thẩm quyền này chỉ được thực hiện trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử. Bởi vì theo quy định tại khoản 2 Điều 210 BLTTDS thì
các quyết định tại phiên tòa sơ thẩm, trong đó có quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự phải được thảo luận, thông qua tại phòng nghị
án. Như vậy thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
tại phiên tòa sơ thẩm thuộc về Hội đồng xét xử.
Về hậu quả pháp lý, quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự trong thủ tục sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có
thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Nếu không bị kháng
cáo, kháng nghị, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có hiệu lực
pháp luật và làm chấm dứt tố tụng. Hơn nữa, việc đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự không chỉ chấm dứt về mặt tố tụng mà đồng thời nội dung vụ án
cũng được giải quyết nhưng bằng phương thức Tòa án từ chối phân xử
tranh chấp. Khác với các vụ án phải qua xét xử thì Tòa án áp dụng pháp
luật nội dung để giải quyết tranh chấp, tuyên bố sự đúng sai, trách
nhiệm của các đương sự trong vụ án… nhưng khi đình chỉ giải quyết vụ án,
Tòa án tuyên bố tranh chấp giữa các bên đương sự không được Tòa án giải
quyết, không áp dụng pháp luật nội dung để phân xử tranh chấp giữa các
bên. Nói cách khác, đối tượng xét xử của Tòa án trong vụ án dân sự là
yêu cầu của các đương sự đã không được Tòa án giải quyết khi đình chỉ
giải quyết vụ án. Chẳng hạn, khi vụ án bị đình chỉ vì lý do đã hết thời
hiệu khởi kiện thì Tòa án sẽ không xem xét đến yêu cầu của nguyên đơn có
căn cứ hay không, nội dung tranh chấp đó như thế nào… mà chỉ quyết định
chấm dứt giải quyết vụ án. Hệ quả là vụ án bị đình chỉ sẽ làm chấm dứt
tố tụng, mặc dù các quyền lợi về mặt nội dung của các đương sự chưa được
giải quyết nhưng các đương sự cũng không thể khởi kiện lại để yêu cầu
Tòa án giải quyết một lần nữa. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 193 BLTTDS cũng
quy định một số ngoại lệ theo đó các đương sự vẫn có thể khởi kiện lại
một vụ án mới mặc dù trước đó đã bị đình chỉ giải quyết vụ án: (i) Người
khởi kiện rút đơn khởi kiện; (ii) Người khởi kiện không có quyền khởi
kiện; (iii) Nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt; (iv) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã mà vụ án đang giải quyết liên quan đến nghĩa vụ tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
Đánh giá một cách khách quan, quy định của BLTTDS về
các trường hợp đương sự có quyền khởi kiện lại như trên là chưa hợp lý.
Cụ thể, đối với trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện thì
đáng lẽ trong mọi trường hợp họ không thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án
giải quyết vụ án dân sự, bất kể thời điểm nào. Nếu tại thời điểm khởi
kiện đó họ không có quyền khởi kiện và bị đình chỉ nhưng sau đó họ lại
có quyền khởi kiện vì đã hội đủ những điều kiện nhất định thì đây là
trường hợp người khởi kiện “chưa có đủ điều kiện khởi kiện” đã
được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 BLTTDS. Tuy nhiên, rất tiếc,
BLTTDS đã không quy định trường hợp này được quyền khởi kiện lại. Tương
tự như vậy, đối với trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì BLTTDS
trao quyền cho họ được khởi kiện lại, nhưng đối với trường hợp cơ quan,
tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp nguyên đơn yêu cầu không
tiếp tục giải quyết vụ án thì không được BLTTDS quy định quyền khởi kiện
lại của nguyên đơn. Vì vậy, BLTTDS cần phải quy định bổ sung những
trường hợp này.
2. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm
Khác với đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ
tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm
phải giải quyết hai vấn đề là đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tức là
nội dung vụ việc và hoạt động tố tụng; và số phận pháp lý của bản án,
quyết định sơ thẩm.
Về tính chất, đình chỉ giải quyết vụ án trong thủ tục
phúc thẩm cũng làm chấm dứt các hoạt động tố tụng. Nhưng không chỉ vậy,
trong trường hợp này Tòa án cấp phúc thẩm còn phải hủy bản án, quyết
định sơ thẩm vì căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án trong thủ tục phúc
thẩm xuất hiện cũng có nghĩa là bản án, quyết định sơ thẩm không có cơ
sở. Ví dụ trường hợp một vụ tranh chấp dân sự đã hết thời hiệu khởi
kiện, đáng lẽ Tòa án cấp sơ thẩm phải trả lại đơn khởi kiện trước khi
thụ lý hoặc phải đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì lại đưa vụ án đó
ra xét xử. Trong trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án sơ
thẩm đó và đình chỉ giải quyết vụ án.
Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án trong thủ tục phúc
thẩm được quy định tại Điều 278 BLTTDS, đó cũng chính là những căn cứ
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm được quy định tại
Điều 192 BLTTDS (Điều 278 quy định viện dẫn đến Điều 192). Điểm cần lưu
ý là những căn cứ này phải đã xuất hiện và tồn tại khi Tòa án cấp sơ
thẩm giải quyết vụ án. Đáng lẽ Tòa án cấp sơ thẩm phải đình chỉ giải
quyết vụ án khi có những căn cứ đó nhưng vì lý do nào đó, Tòa án cấp sơ
thẩm vẫn giải quyết thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự. Tuy nhiên, đối với căn cứ nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại
thủ tục phúc thẩm (bao gồm trước và tại phiên tòa phúc thẩm) thì áp dụng
những quy định riêng biệt tại Điều 269 BLTTDS. Đối với trường hợp này,
Tòa án cần phải hỏi ý kiến của bị đơn có đồng ý để nguyên đơn rút đơn
khởi kiện hay không. Nếu bị đơn đồng ý thì mới đình chỉ giải quyết vụ
án, còn nếu bị đơn không đồng ý thì Tòa án vẫn xét xử vụ án. Quy định
này không nhằm mục đích hạn chế quyền tự quyết định của nguyên đơn mà là
nhằm bảo vệ quyền lợi cho bị đơn trước viễn cảnh có thể bị nguyên đơn
khởi kiện lại nếu chấp nhận cho nguyên đơn rút đơn khởi kiện. Bởi vì nếu
bị đơn phản đối việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn tức là đồng ý với
phán quyết trong bản án, quyết định sơ thẩm và các đương sự phải thi
hành bản án, quyết định đó; và trường hợp này nguyên đơn không thể khởi
kiện lại vì đã có bản án, quyết định giải quyết vụ việc đó.
Về thời điểm áp dụng đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
trong thủ tục phúc thẩm khác với thủ tục sơ thẩm. Nếu như đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm có thể áp dụng trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm tức là trước phiên tòa hoặc tại phiên tòa sơ
thẩm, thì đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm chỉ
được áp dụng trong phiên tòa phúc thẩm. Quy định này xuất phát từ tính
chất của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm
là quyết định đến số phận pháp lý của bản án sơ thẩm, nên nó phải được
quyết định ở phiên tòa phúc thẩm. Như vậy, thẩm quyền đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm chỉ thuộc về Hội đồng xét xử
phúc thẩm (Điều 269, 278 BLTTDS). Thẩm phán cấp phúc thẩm được phân công
giải quyết vụ án không có thẩm quyền này.
Về hình thức văn bản, Hội đồng xét xử phúc thẩm có
thể ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hoặc bản án phúc
thẩm. Trong trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước hoặc tại phiên
tòa phúc thẩm và được bị đơn đồng ý thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra
Quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (khoản 1 Điều
269 BLTTDS). Đối với những căn cứ khác, Hội đồng xét xử ra bản án phúc
thẩm để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 278
BLTTDS). Theo nguyên tắc chung, quyết định hay bản án phúc thẩm đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự cũng như những bản án, quyết định phúc thẩm
khác sẽ có hiệu lực pháp luật ngay.
3. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Đình chỉ xét xử phúc thẩm khác biệt với đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm. Tính chất của đình chỉ xét
xử phúc thẩm không làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về mặt nội dung mà
chỉ chấm dứt thủ tục tố tụng phúc thẩm. Nói cách khác, đình chỉ xét xử
phúc thẩm làm chấm dứt hoạt động xét xử phúc thẩm nhưng cũng đồng thời
làm phát sinh hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định sơ thẩm, theo đó
những quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định sơ thẩm của các đương
sự phải được tôn trọng và thi hành.
Căn cứ của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm được quy
định tại Điều 192, 260 BLTTDS, bao gồm: (i) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá
nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; (ii) Cơ
quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá
nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan,
tổ chức đó; (iii) Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát
rút toàn bộ kháng nghị; (iv) Những trường hợp khác mà pháp luật có quy
định.
Như vậy, theo quy định của BLTTDS thì hai căn cứ đầu
(nêu trên) vừa là căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án tại thủ tục phúc thẩm
vừa là căn cứ đình chỉ xét xử phúc thẩm. Quy định này đã gây ra một khó
khăn trong thực tiễn áp dụng là khi nào Tòa án cấp phúc thẩm sẽ đình
chỉ giải quyết vụ án và khi nào sẽ đình chỉ xét xử phúc thẩm. Nghị quyết
số 05/2006/NQ-HĐTP cũng không có quy định nào hướng dẫn về vấn đề này.
Tuy nhiên, chúng ta có thể suy luận rằng nếu như sự kiện nguyên đơn hoặc
bị đơn là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị
tuyên bố phá sản mà không có người thừa kế tham gia tố tụng xuất hiện và
tồn tại trước và trong khi giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm mà
Tòa án cấp sơ thẩm vẫn cứ giải quyết thì Tòa án cấp phúc thẩm phải ra
bản án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Nếu những sự kiện đó xuất hiện và tồn tại trong quá trình Tòa phúc thẩm
giải quyết vụ án thì Tòa phúc thẩm chỉ đình chỉ xét xử phúc thẩm. Trong
trường hợp này bản án, quyết định sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật vì
thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định là hoàn toàn có căn
cứ, cơ sở.
Thời điểm đình chỉ xét xử phúc thẩm có thể trước
phiên tòa tức là giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên tòa
phúc thẩm. Hình thức văn bản được áp dụng chung là Quyết định đình chỉ
xét xử phúc thẩm. Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì thẩm
quyền ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm do Thẩm phán được phân
công phụ trách vụ án thực hiện, còn tại phiên tòa phúc thẩm do Hội đồng
xét xử phúc thẩm quyết định.5 Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay.
Như đã đề cập, đình chỉ xét xử phúc thẩm sẽ dẫn đến
hậu quả là bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên,
BLTTDS đã không quy định thời điểm chung phát sinh hiệu lực pháp luật
của bản án, quyết định sơ thẩm. Trong đó, BLTTDS chỉ quy định trường hợp
đình chỉ vì lý do người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát
rút toàn bộ kháng nghị thì bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày Tòa án ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (khoản 2
Điều 260 BLTTDS). Vậy những trường hợp đình chỉ xét xử phúc thẩm còn lại
thì hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định sơ thẩm sẽ được xác định
từ ngày nào? Từ ngày Tòa án ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm hay
từ ngày phát sinh sự kiện làm căn cứ cho việc đình chỉ xét xử phúc thẩm?
Thiết nghĩ, BLTTDS cần quy định cụ thể trường hợp này.
4. Đình chỉ xét xử yêu cầu của đương sự
Ngoài các loại đình chỉ trình bày ở trên, BLTTDS còn
quy định một loại đình chỉ khá đặc biệt nữa là đình chỉ xét xử yêu cầu
của đương sự. Vấn đề này được quy định tại khoản 2 Điều 218 BLTTDS: “trong
trường hợp đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc
rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình
chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu của đương sự đã rút”; và tại khoản 2 Điều 256: “Tòa
án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án
mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng
nghị”.
BLTTDS không quy định cụ thể về điều kiện áp dụng,
hình thức của việc đình chỉ xét xử theo yêu cầu. Nghị quyết số
05/2006/NQ-HĐTP (tại mục I.10.2) cũng chỉ hướng dẫn căn cứ đình chỉ xét
xử yêu cầu kháng cáo, kháng nghị của đương sự, Viện kiểm sát trong thủ
tục phúc thẩm. Để hiểu rõ hơn về căn cứ áp dụng việc đình chỉ xét xử yêu
cầu của đương sự chúng ta cần phải xem xét cụ thể trong từng giai đoạn
tố tụng:
- Đình chỉ xét xử yêu cầu của đương sự trong thủ tục sơ thẩm:
Tòa án cấp sơ thẩm chỉ đình chỉ xét xử yêu cầu của
đương sự nếu như trong vụ án có nhiều đương sự đưa ra yêu cầu và trong
đó chỉ có một hoặc một số rút yêu cầu, số còn lại vẫn giữ nguyên yêu cầu
của họ. Cụ thể, nếu (i) vụ án có một nguyên đơn đưa ra nhiều yêu cầu mà
sau đó họ rút một phần yêu cầu; (ii) vụ án có nhiều nguyên đơn mà trong
đó có nguyên đơn rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu nhưng các nguyên đơn
khác vẫn giữ nguyên yêu cầu của họ; (iii) vụ án mà bị đơn cũng có yêu
cầu phản tố đối với nguyên đơn nhưng sau đó nguyên đơn rút đơn khởi kiện
mà bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố; (iv) vụ án trong đó người có
quyền và nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập nhưng sau đó nguyên
đơn rút toàn bộ đơn khởi kiện, bị đơn nếu có phản tố cũng rút toàn bộ
yêu cầu phản tố.6 Trong những trường hợp đó Tòa án sẽ đình
chỉ xét xử yêu cầu của những đương sự đã rút một phần hoặc toàn bộ yêu
cầu đó nhưng không làm chấm dứt tố tụng mà vụ án vẫn tiếp tục được giải
quyết.
Trong trường hợp tất cả các đương sự đều rút toàn bộ
các yêu cầu của họ thì Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án và chấm dứt
tố tụng chứ không phải đình chỉ xét xử yêu cầu của từng đương sự. Tuy
nhiên, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Điều 192 BLTTDS đã
không có quy định nào về trường hợp đình chỉ này.
Về mặt hình thức, hiện nay BLTTDS cũng như các Nghị
quyết hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao đều chưa có quy định cụ thể
nào về hình thức quyết định của loại đình chỉ xét xử yêu cầu của đương
sự trong thủ tục sơ thẩm. Trong những trường hợp đình chỉ nêu trên, Tòa
án phải ra quyết định đình chỉ hay chỉ cần ghi biên bản? Trong các mẫu
văn bản do Tòa án nhân dân tối cao ban hành cũng không có mẫu quyết định
đình chỉ xét xử yêu cầu của đương sự. Chính vì vậy, BLTTDS cần quy định
rõ về hình thức, thủ tục và thẩm quyền đình chỉ xét xử yêu cầu của
đương sự trong thủ tục sơ thẩm.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu kháng cáo, kháng nghị trong thủ tục phúc thẩm:
Tương tự như trong thủ tục sơ thẩm, việc đình chỉ xét
xử yêu cầu kháng cáo, kháng nghị của Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được áp
dụng khi người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn
bộ kháng nghị mà không có người khác kháng cáo về phần đó; khi người
kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị
và phần yêu cầu rút đó độc lập với những phần kháng cáo, kháng nghị khác
đồng thời không có người kháng cáo khác về phần đó (mục I.10.2 Nghị
quyết số 05/2006/NQ-HĐTP). Trong trường hợp tất cả mọi người kháng cáo,
Viện kiểm sát kháng nghị đều rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị thì Tòa
án ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm theo căn cứ đã nêu trên.
Về mặt hình thức, mục I.10.2 Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP quy định cụ thể rằng “Tòa
án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những
phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo, Viện kiểm sát đã rút
kháng nghị”. Như vậy, đối với những căn cứ nêu trên về việc rút
yêu cầu kháng cáo, kháng nghị trong thủ tục phúc thẩm thì Tòa án cấp
phúc thẩm phải ra quyết định đình chỉ xét xử phần yêu cầu kháng cáo,
kháng nghị đó. Tuy nhiên, việc ra quyết định đình chỉ xét xử phần yêu
cầu kháng cáo, kháng nghị nếu do thẩm phán thực hiện trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử phúc thẩm là hợp lý thì việc ra một quyết định độc lập
như vậy tại phiên tòa phúc thẩm phải chăng mang nặng tính hình thức, thủ
tục và không cần thiết mà hoàn toàn có thể ghi biên bản phiên tòa và
xác nhận trong bản án. Cần lưu ý là việc đình chỉ xét xử phần yêu cầu
kháng cáo, kháng nghị trong thủ tục phúc thẩm cũng như đình chỉ xét xử
phần yêu cầu của đương sự trong thủ tục sơ thẩm không làm chấm dứt tố
tụng mà ngược lại Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục
chung.
5. Đình chỉ trong thủ tục giải quyết việc dân sự
Một trong những thiếu sót của BLTTDS là chưa có những
quy định cụ thể về đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết việc dân sự. Hiện
nay, Tòa án nhân dân tối cao cũng chưa có văn bản nào hướng dẫn áp dụng
thủ tục tố tụng giải quyết các việc dân sự. Căn cứ vào Điều 311 BLTTDS,
nếu chúng ta áp dụng các quy định tương tự khác của BLTTDS về thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự, trong đó có đình chỉ, vào thủ tục giải
quyết việc dân sự thì sẽ không phù hợp. Lý do đơn giản là các căn cứ
đình chỉ trong thủ tục giải quyết vụ án dân sự hoàn toàn khác với thủ
tục giải quyết việc dân sự. Chính vì vậy, thiết nghĩ, BLTTDS cần quy
định cụ thể hơn về vấn đề này, tuy nhiên, trong thời gian trước mắt, Tòa
án nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn cụ thể để tránh tình trạng
lúng túng khi áp dụng pháp luật tố tụng dân sự trong thực tiễn.
Như vậy, “đình chỉ” trong tố tụng dân sự bao gồm
nhiều loại khác nhau, hơn nữa trong một loại đình chỉ thì ở từng giai
đoạn tố tụng cũng được áp dụng khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay BLTTDS
chưa quy định một cách cụ thể những nội dung đó cho từng loại đình chỉ
hoặc cho từng giai đoạn tố tụng. Điều này dẫn đến những vướng mắc, khó
khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng. Vì những lẽ đó, việc sửa
đổi BLTTDS trong thời gian tới cần thiết phải cụ thể hóa căn cứ, hình
thức, thủ tục tố tụng, thẩm quyền và hậu quả pháp lý của từng loại đình
chỉ cũng như đình chỉ ở từng giai đoạn tố tụng cho phù hợp với tính chất
của mỗi loại.
Chú thích:
[1] Điều 46, 52 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự; Điều 39, 50 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế;
Điều 41, 53 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động.
[2] Tống Công Cường, Luật tố tụng dân sự Việt nam: Nghiên cứu so sánh, NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, năm 2007, tr. 290.
[3] Xem Mục I.7 và Mục II.10 Nghị quyết số
02/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày
12/5/2006 hướng dẫn về thủ tục giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm.
[4] khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 192 BLTTDS, Mục
I.1.1 Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao ngày 31/3/2005 hướng dẫn phần Những quy định chung của
BLTTDS.
5 Điều 260, 265 BLTTDS
6 Trong trường hợp mà các đương sự này rút toàn bộ
yêu cầu và các đương sự khác vẫn giữ nguyên yêu cầu của họ thì tùy từng
trường hợp Tòa án sẽ đồng thời tuyên bố thay đổi địa vị tố tụng. Chẳng
hạn nguyên đơn trở thành bị đơn, bị đơn trở thành nguyên đơn, người có
quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trở thành nguyên đơn,
người bị yêu cầu trở thành bị đơn. Xem Điều 219 BLTTDS; Tống Công Cường,
sđd, tr. 157.
TẠP CHÍ NGHỀ LUẬT SỐ 4 NĂM 2006
TS. NGUYỄN VĂN DŨNG – Học Viện Tư Pháp
Chế định “đại diện”
được quy định tại nhiều điều luật, tương đối đầy đủ và chi tiết trong Bộ
luật dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự. Theo những quy định này, trong
quan hệ dân sự và tố tụng dân sự có “người đại diện theo pháp luật” và
“người đại diện theo ủy quyền”- được gọi chung là người đại diện hoặc
người đại diện hợp pháp. Quyền và nghĩa vụ của người “đại diện theo pháp
luật” và “đại diện theo ủy quyền” không phải trong mọi trường hợp đều
như nhau và giống nhau. Khi đặt trong tổng thể chung, có những quy định
pháp luật gây nhầm lẫn hoặc gây tranh luận về mặt lý luận cũng như trong
thực tiễn áp dụng. Quy định: “người đại diện của đương sự” tại Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự là một quy định như vậy.
Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự, người đại diện của đương sự,
cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết
định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm để
yêu cầu toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc
thẩm.” Theo quy định này, có 3 đối tượng được quyền kháng cáo bản án,
quyết định sơ thẩm bao gồm, Đương sự; Người đại diện của đương sự; Cơ quan, tổ chức khởi kiện có
quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án. Với hai đối tượng: đương
sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo là chính xác,
đúng quy định pháp luật và không cần bàn cãi. Bài viết này bàn về quy
định người đại diện của đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án,
quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toà án…
1. Những quy định của pháp luật về đại diện và về ủy quyền
a. Quy định pháp luật về đại diện.
Điều 139 Chương VII Phần thứ nhất Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
“ Điều 139. Đại diện.
1. Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người
đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người
được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại
diện.
2…..
3. Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền.”.
Theo quy định này, người đại diện luôn nhân danh (người khác) và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.
Tiếp đó các điều 140; 141; 142 và 143 quy định cụ
thể về đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền. Theo đó người
đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định (Điều 140). Cụ thể, người đại
diện theo pháp luật bao gồm: Cha mẹ đối với con chưa thành niên; Người
giám hộ đối với người được giám hộ; Người được Toà án chỉ định đối với
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Người đứng đầu pháp nhân theo
quy định của Điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền; Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình; Tổ trưởng tổ hợp tác
đối với tổ hợp tác và những người khác theo quy định của pháp luật (Điều
141). Người đại diện theo uỷ quyền là người đại diện được xác lập theo
sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện (Điều 142)…và
việc đại diện theo uỷ quyền phải theo đúng quy định pháp luật về uỷ
quyền.
Các điều từ Điều 73 đến Điều 78 Bộ luật Tố tụng Dân
sự cũng quy định chi tiết, cụ thể về đại diện. Theo những quy định này,
người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp
luật và người đại diện theo uỷ quyền; người đại diện theo pháp luật và
người đại diện theo uỷ quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người
đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng
dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện và trường hợp không
được uỷ quyền theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, Điều 74 quy định:
“Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện các
quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự mà mình đại diện. Người đại diện theo uỷ
quyền trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự
theo nội dung văn bản uỷ quyền”
b. Quy định pháp luật về ủy quyền.
Hợp đồng uỷ quyền được quy định tại Mục 12 Chương XVIII Phần thứ ba Bộ luật dân sự.
“ Điều 581. Hợp đồng uỷ quyền.
Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo
đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ
quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc
pháp luật có quy định.”.
Với những quy định của pháp luật về đại diện thì dù
có được uỷ quyền và trong phạm vi uỷ quyền nhưng người được uỷ quyền
phải nhân danh người uỷ quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của chính
người uỷ quyền.
2. Về quy định “ quyền người đại diện đương sự”tại Điều 243 Bộ luật Tố tụng dân sự
Theo quy định pháp luật, khi một người có quyền thì
họ có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác thay mình thực hiện quyền
đó. Ví dụ quyền khởi kiện (Điều 4, Điều 161); Quyền tự định đoạt (Điều
5); Quyền bảo vệ (Điều 9)…và quyền kháng cáo. Như vậy, quy định tại Điều
243 Bộ luật tố tụng dân sự “ …người đại diện đương sự,…
có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ
giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu toà án cấp trên trực
tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm”, được hiểu không chỉ đương
sự, mà cả người đại diện (đại diện theo pháp luật và đại diện được uỷ
quyền) của đương sự được quyền tự mình hoặc nhờ người khác làm đơn kháng
cáo bản án, quyết định của tòa án và thực tế đã gặp những trường hợp
như vậy.
Thực tiễn xét xử tuy chưa gặp trường hợp người đại
diện (theo uỷ quyền) uỷ quyền cho người khác viết đơn kháng cáo, nhưng
đã có trường hợp luật sư tham gia tố tụng với tư cách người đại diện
(theo uỷ quyền) đã nhân danh luật sư, nhân danh cá nhân làm đơn kháng
cáo bản án của toà án. Cụ thể có đơn kháng cáo đã viết:
“ …
Đơn kháng cáo
Kính gửi: Tòa án nhân dân…..
Tôi: Nguyễn M.D, Luật sư thuộc Đoàn luật sư Hà Nội,
tôi làm đơn này kháng cáo bản án sơ thẩm số…/DSST ngày …tháng …năm 2005
của Tòa án nhân dân…
…
Hà Nội, ngày… tháng….năm 2005.
Người kháng cáo
(ký tên)
Luật sư. Nguyễn M.D”.
Trao đổi về đơn kháng cáo này có hai quan điểm được nêu ra.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, đơn kháng cáo của
Luật sư nhân danh cá nhân là đúng theo quy định tại điều 243 Bộ luật tố
tụng dân sự vì luật sư là người đại diện cho đương sự và có quyền kháng cáo.
Khi một người có quyền thì họ được nhân danh cá nhân mình làm đơn kháng
cáo. Trong trường hợp này, Luật sư đã làm đúng và trong phạm vi pháp
luật cho phép.
Quan điểm thứ hai lại cho rằng, vì Luật sư
tham gia tố tụng với tư cách người đại diện (theo uỷ quyền) cho đương sự
nên không được nhân danh luật sư, nhân danh cá nhân làm đơn kháng cáo
bản án của toà án, mà phải nhân danh đương sự (người ủy quyền) kháng cáo
bản án.
Chúng tôi ủng hộ quan điểm thứ hai, vì khi vận dụng
một quy định nào đó cần đặt chúng trong một tổng thể chung và trong từng
trường hợp cụ thể. Khi tham gia một quan hệ pháp luật với tư cách người
đại diện theo ủy quyền thì phải tuân thủ những quy định chung về đại
diện và về ủy quyền. Quy định người đại diện cho đương sự có quyền kháng
cáo không thể được áp dụng trong mọi trường hợp, mà chỉ đúng khi áp
dụng trong trường hợp người đại diện theo pháp luật.
Ở đây, Luật sư chỉ là người được uỷ quyền, nên chỉ được nhân danh bên ủy quyền, nhân đương sự mà mình đaị diện làm đơn kháng cáo. Việc Luật sư nhân danh mình làm đơn kháng cáo là không chính xác, không đúng.
Nhưng tại sao lại có sự áp dụng không chính xác này, tại quy định tại Điều 243 Bộ luật Tố tụng dân sự hay tại người áp dụng?
Thứ nhất, về phía người áp dụng, do chỉ đặt
quy định của Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự độc lập và áp dụng quy định
đó một cách riêng biệt việc áp dụng đã trở nên phiến diện và mâu thuẫn
về mặt lý luận. Hệ quả là người đại diện theo ủy quyền lại không nhân
danh người ủy quyền mà nhân danh chính mình thực hiện hành vi tố tụng
trước tòa án. Nếu chỉ viện dẫn riêng một điều luật (Điều 243 Bộ luật tố
tụng dân sự) trong trường hợp này thì luật sư không sai vì quy định
người đại diện có quyền kháng cáo tại Điều 243 nói trên cho phép được
hiểu quyền đó dành cho tất cả những người đại diện.
Thứ hai, về quy định của điều luật, Điều 243
Bộ luật tố tụng dân sự quy định người đại diện của đương sự có quyền
kháng cáo dẫn đến có người hiểu quyền đó dành cho tất cả những người đại
diện, nhưng thực tế quyền này không quy định cho tất cả những người đại
diện mà chỉ đối với người đại diện theo pháp luật, đặc biệt cho người
đại diện quy định tại các khỏan 4; 5; 6 và 7 Điều 57 Bộ luật tố tụng dân
sự. Nếu đúng như vậy thì quy định chưa chuẩn của điều luật đã gây sự
hiểu lầm và tạo nên sự áp dụng không thống nhất và không chính xác trong
thực tiễn.
Theo chúng tôi, Bộ luật tố tụng dân sự đã không phân
biệt rõ mà đánh đồng việc sử dụng các khái niệm “người đại diện hợp
pháp” với “người đại diện theo pháp luật”. Đáng tiếc, nội dung này cũng
được tìm thấy trong hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần
thứ hai “Thủ tục giải quyết các vụ án tại toà án cấp sơ thẩm” của Bộ
luật tố tụng dân sự (Tiểu mục 1.3. Mục 1.Về điều 161 của BLTTDS).
Như đã đề cập đến ở phần trên, chế định “người đại
diện- người đại diện hợp pháp” có người đại diện theo pháp luật và người
đại diện theo uỷ quyền. Các điều từ Điều 73 đến Điều 78 Bộ luật Tố tụng
Dân sự cũng quy định chính xác những khái niệm này, nhưng đáng tiếc quy
định tại Điều 57, Điều 161 và Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự đã gây ra
những hiểu lầm và áp dụng sai trong thực tiễn. Cũng quy định về người
đại diện tương tự như quy định tại các khỏan 4; 5; 6 và 7 Điều 57 Bộ
luật tố tụng dân sự, nhưng các Điều 20; 21; 22 và 23 Bộ luật dân sự năm
2005 đã sử dụng khái niệm “người đại diện theo pháp luật” mà không sử
dụng “người đại diện hợp pháp”. Việc sử dụng khái niệm người đại diện
theo pháp luật trong các điều luật nêu trên của Bộ luật dân sự là chính
xác và chuẩn về sử dụng thuật ngữ pháp lý.
3. Kiến nghị
Để khắc phục những bất cập trong hoạt động tố tụng, theo tôi, những người liên quan cần có những lưu ý sau.
Đối với những người đại diện theo uỷ quyền, khi sử
dụng quyền kháng cáo, không nên cho rằng quyền kháng cáo bản án, quyết
định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm để
yêu cầu toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm
là quyền trực tiếp của mình, mà quyền đó là quyền được đương sự ủy
quyền. Mọi hành vi tố tụng của luật sư đều phải nhân danh người ủy quyền
cho mình, nhân danh đương sự. Cần đặt quy định này trong tổng thể
chung, trong các điều luật có liên quan.
Đối với Tòa án, các Thẩm phán, khi nhận được đơn
kháng cáo như nêu trên, cần áp dụng quy định chung của pháp luật tại các
Điều 244 và 246 Bộ luật tố tụng dân sự để xác định tính không hợp lệ
của đơn kháng cáo và không chấp nhận đơn vì người kháng cáo không đúng
thẩm quyền.
Tuy nhiên, để tránh những tranh luận không cần thiết,
đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, cần có sự quan tâm xem xét khi
có sự sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự. Cụ thể cụm từ “người đại
diện hợp pháp” cần thay bằng “người đại diện theo pháp luật” quy định
tại các khoản 4; 5; 6 và 7 Điều 57; Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự ”;
Cụm từ “người đại diện của đương sự” tại Điều 243 cần thay bằng cụm từ
“người đại diện hợp pháp của đương sự”.
TS. PHÙNG TRUNG TẬP – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội
Kiện đòi lại tài sản là
một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu theo qui định của pháp
luật. Theo qui định tại Điều 255 BLDS, thì: “Chủ sở hữu, người chiếm
hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải
trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện
quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Quyền sở hữu tài sản là quyền dân sự của
chủ sở hữu, được pháp luật bảo hộ. Trong trường hợp tài sản của chủ sở
hữu đang do người khác chiếm hữu không dựa trên sự định đoạt ý chí của
chủ sở hữu, thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu người đang thực tế chiếm hữu
tài sản có nghĩa vụ trả lại tài sản cho mình. Ngoài chủ sở hữu tài sản,
người có quyền chiếm hữu hợp pháp tài sản của chủ sở hữu cũng có quyền
khởi kiện để yêu cầu Toà án buộc người đang chiếm hữu tái sản có nghĩa
vụ trả lại tài sản. Người chiếm hữu hợp pháp tài sản là người được chủ
sở hữu chuyển giao tài sản thông qua một giao dịch dân sư (cho thuê,
mượn, gửi giữ, cầm cố…). Người chiếm hữu hợp pháp còn là người đang quản
lý tài sản chung (di sản thừa kế chưa chia, quản lý di sản dùng vào
việc thờ cúng). Như vậy, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có
quyền kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu bất hợp pháp. Quan hệ về
quyền sở hữu tài sản là quan hệ pháp luật dân sự, do vậy chủ sở hữu tự
mình thể hiện ý chí trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.
Tuy nhiên, trong quan hệ xã hội và pháp luật, tài sản của chủ sở hữu
trong những hoàn cảnh cụ thể đã dời khỏi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu
hợp pháp ngoài ý chí, do có hành vi chiếm đoạt trái pháp luật tài sản
đó. Bộ luật dân sự qui định chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có
quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về
tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu
hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, nếu tài
sản đó chưa được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu ở người đang chiếm
hữu (Điều 256).
Tài sản theo tính chất được phân thành
động sản và bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu và động sản
không phải đăng ký quyền sở hữu, theo đó việc chủ sở hữu có quyền kiện
đòi lại tài sản hay không có quyền kiện đòi lại tài sản (kiện vật
quyền). Tuy nhiên, theo qui định tại Điều 258 BLDS, quyền của chủ sở hữu
kiện đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản không
được đáp ứng, nếu người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được các tài sản
đó thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau
đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị
huỷ, sửa. Qui định tại Điều 258, không những nhằm bảo vệ lợi ích của chủ
sở hữu tài sản, mà trong những điều kiện nhất định thì quyền của người
đang thực tế chiếm hữu tài sản vẫn được bảo vệ theo căn cứ xác lập quyền
sở hữu hợp pháp của người đó đối với động sản phải đăng ký quyền sở hữu
hoặc bất động sản.
Trong bài tham luận này, chúng tôi bàn về
việc kiện đòi lại tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu
từ người chiếm hữu ngay tình.
Theo qui định tại Điều 257 BLDS: “Chủ
sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ
người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có
được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có
quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có
đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy
cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở
hữu”.
Theo qui định trên, quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu với điều kiện:
- Người chiếm hữu động sản đó được xác định là chiếm hữu ngay tình;
- Người chiếm hữu ngay tình tài sản đó thông qua một giao dịch không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản.
Theo những qui định trên, đã loại trừ
những trường hợp cho dù một người chiếm hữu tài sản của chủ sở hữu thông
qua một giao dịch có đền bù, nhưng hành vi của người chiếm hữu tài sản
đó được xác định là hành vi không ngay tình khi chiếm hữu, thì người này
có trách nhiệm trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Qui định này nhằm bảo vệ
lợi ích tuyệt đối của chủ sở hữu, đồng thời nhằm ngăn chặn các hành vi
lợi dụng để chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu thông qua giao dịch.
Như vậy, quyền đòi lại tài sản của chủ sở
hữu động sản không phải đăng ký quyền sở hữu phụ thuộc vào ý chí và
hành vi của người đang chiếm hữu được xác định là ngay tình, nhưng người
đang chiếm hữu đó có được tài sản do người không có quyền chuyển giao
theo hợp đồng không có đền bù. Người không có quyền định đoạt tài sản
của chủ sở hữu thường là người thuê, mượn, nhận gửi giữ, người vận
chuyển, người nhận cầm cố, người nhận đặt cọc tài sản của chủ sở hữu
động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, không được sự cho phép của chủ
sở hữu nhưng người chiếm hữu vẫn chuyển giao tài sản thông qua hợp đồng
không có đền bù cho người thứ ba như tặng cho tài sản, thì chủ sở hữu
có quyền đòi lại tài sản. Qui định này nhằm ngăn chặn hành vi lạm dụng
lòng tin để chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu. Hơn nữa, người đang chiếm
hữu tài sản được chuyển giao cho dù là chiếm hữu ngay tình, vẫn có
nghĩa vụ phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và lợi ích của người này
cũng không bị xâm phạm. Ngược lại, nếu người đang chiếm hữu tài sản của
chủ sở hữu được xác định là chiếm hữu không ngay tình, thì cho dù hợp
đồng chuyển giao tài sản đó là hợp đồng có đền bù, người chiếm hữu không
ngay tình vẫn có nghĩa vụ trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu.
Nhằm ngăn chặn hành vi lấy cắp tài sản
của chủ sở hữu, và tài sản đó do người lấy cắp chuyển giao cho người thứ
ba thông qua hợp đồng có đền bù, thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài
sản ở người đang chiếm hữu, cho dù hành vi chiếm hữu của người này là
ngay tình hoặc không ngay tình.
Quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu động
sản không phải đăng ký quyền sở hữu được đáp ứng kể cả trong trường hợp
tài sản này bị mất và trong những trường hợp khác, loại động sản này
dời khỏi chủ sở hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.
Quyền kiện đòi lại động sản không phải
đăng ký quyền sở hữu, chỉ được đáp ứng trong trường hợp tài sản đó vẫn
còn. Như vậy, nếu động sản là đối tượng của vụ kiện không còn tồn tại
(do bị mất, bị tiêu huỷ…), thì mục đích kiện đòi lại động sản đó của chủ
sở hữu hoặc của người chiếm hữu hợp pháp không được đáp ứng. Trong
trường hợp này, quyền của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp chỉ
được bảo vệ theo phương thức kiện trái quyền.
Kiện đòi lại động sản không phải đăng ký
quyền sở hữu, theo qui định tại Điều 257 BLDS, là nhằm bảo vệ quyền của
chủ sở hữu trong những trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, nội dung Điều 257
BLDS đã làm phức tạp hoá những vấn đề rất đơn giản do qui định: “động sản không phải đăng ký quyền sở hữu”.
Tài sản của chủ sở hữu cho dù có đăng ký hoặc không đăng ký cũng không
vì thế mà làm tăng lên hoặc giảm sút quyền của chủ sở hữu tài sản đó.
Thủ tục đăng ký động sản không có sự liên quan nào đến quyền kiện đòi
lại tài sản của chủ sở hữu trong trường hợp tài sản của chủ sở hữu đang
bị người khác chiếm hữu trái pháp luật, trái ý chí của chủ sở hữu. Về
bản chất, việc đăng ký động sản chỉ có ý nghĩa nhằm ngăn chặn hành vi
xâm phạm đến tài sản đó nếu có; để chủ sở hữu có căn cứ xác định tài sản
đó là của mình. Việc đăng ký động sản hay không đăng ký động sản của
chủ sở hữu không ảnh hưởng đến quyền của chủ sở hữu tài sản. Vì chủ sở
hữu tài sản thực hiện quyền sở hữu của mình theo qui định của pháp luật,
không phụ thuộc vào tài sản đó có giá trị lớn hay nhỏ, là động sản hay
bất động sản, tài sản đó có phải đăng ký hay không. Bất luận, khi tài
sản của chủ sở hữu đang bị người khác chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở
hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp, thì người đó có quyền kiện hoặc không
kiện để yêu cầu người đang thực tế chiếm hữu tài sản phải trả lại tài
sản đó cho mình, không phụ thuộc vào việc tài sản đó có đăng ký hay
không.
Theo chúng tôi, Điều 257 nên sửa đổi bằng việc loại bỏ những chữ thừa, mà chỉ cần qui định: Quyền đòi lại động sản từ người chiếm hữu ngay tình,
là đủ. Sửa đổi theo phương án này, điều luật vừa có tính khái quát, vừa
hiện đại và cũng nhằm loại bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, đã gây
cản trở không nhỏ cho chủ sở hữu động sản trong giai đoạn hiện nay.
Qui định tại Điều 257 BLDS, còn hạn chế
là chưa đề cập đến những trường hợp động sản không phải đăng ký của chủ
sở hữu, do người chiếm hữu ngay tình sử dụng, khai thác đã thu được
những lơi ích nhất định trong thời gian chiếm hữu, trong trường hợp chủ
sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp được đòi lại vật, thì người chiếm
hữu ngay tình có nghĩa vụ hoàn trả những lợi ích vật chất đó cho chủ sở
hữu không? Theo nguyên tắc, chủ sở hữu tài sản được hưởng những lợi ích
vật chất từ tài sản. Vì trong thời gian tài sản của chủ sở hữu do người
khác chiếm hữu, nhưng vẫn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu động sản đó.
Một trường hợp khác, lợi ích của người thuê động sản không phải đăng ký
quyền sở hữu đã không được đáp ứng, do động sản đó lại đang do người
khác chiếm hữu, khai thác thu lợi nhuận, mà người thuê tài sản đó vẫn có
nghĩa vụ trả tiền thuê tài sản cho chủ sở hữu, khoản tiền đó sẽ được
giải quyết như thế nào để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu và quyền của
người thuê tài sản đó?
Kiện đòi lại động sản không phải đăng ký
quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình là phương thức kiện dân sự
được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội. Những qui định pháp
luật về vấn đề này đã nhằm bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu hoặc của người
chiếm hữu hợp pháp. Tuy nhiên, những qui định của pháp luật về vấn đề
này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định như chúng tôi đã chỉ ra trên
đây. Những hạn chế này cần phải được khắc phục khi BLDS của nước ta
được sửa đổi, bổ sung./.
THS. BÙI THỊ HUYỀN - Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội
Bảo vệ quyền sở hữu tài sản là vấn đề tất yếu nhằm
bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
tài sản một cách có hiệu quả và trọn vẹn nhất. Vì vậy, Điều 255 Bộ luật
Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp
pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang
chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật”.
Một trong các phương thức bảo vệ quyền sở hữu tài sản có hiệu quả nhất
đó là phương thức khởi kiện đến Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự.
Trong phạm vi của hội thảo, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề liên
quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản bằng con đường Toà án mà trong
thực tiễn áp dụng pháp luật hiện có các quan điểm khác nhau .
1. Thẩm quyền xét xử của Toà án
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục
giải quyết các tranh chấp, yêu cầu của các chủ thể tại Toà án được chia
thành hai thủ tục: Thủ tục giải quyết việc dân sự và thủ tục giải quyết
việc dân sự. Ở Việt Nam, trước khi ban hành BLTTDS không có khái niệm vụ
việc dân sự mà chỉ có khái niệm vụ án dân sự. Khái niệm vụ án dân sự
dùng để chỉ những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân
sự (theo nghĩa hẹp), những tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ
pháp luật hôn nhân và gia đình. Cho nên, bên cạnh khái niệm vụ án dân sự
còn có các khái niệm vụ án kinh tế, vụ án lao động. BLTTDS ra đời đã
thống nhất ba loại thủ tục TTDS, kinh tế, lao động thành thủ tục TTDS và
các loại việc được giải quyết tại Toà án theo thủ tục TTDS là vụ việc
dân sự. Tuy không đưa ra khái niệm vụ việc dân sự nhưng theo Điều 1 của
BLTTDS thì vụ việc dân sự bao gồm: vụ án dân sự và việc dân sự, trong đó việc dân sự
là những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết (Điều 26, 28, 30, 32
BLTTDS). Còn vụ án dân sự là những tranh chấp về quyền và nghĩa
vụ giữa các bên phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Toà án thụ lý, giải quyết
(Điều 25, 27, 29, 31 BLTTDS). Như vậy, các tranh chấp về quyền sở hữu
tài sản được Toà án thụ lý, giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.
Hiện nay, BLTTDS không quy định giá trị tối thiểu đối
với những tài sản có tranh chấp được khởi kiện đến Toà án. Vì vậy, cho
dù các đương sự tranh chấp về một vật có giá trị rất nhỏ thì Toà án vẫn
phải thụ lý, giải quyết, nếu vật đó là tài sản theo quy định của pháp
luật dân sự. Tuy nhiên, xét từ góc độ hiệu quả kinh tế của việc giải
quyết tranh chấp dân sự thì vấn đề giới hạn giá trị của tài sản khi xác
định thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Toà án còn có các ý kiến khác
nhau.
Hầu hết các tranh chấp về tài sản đều thuộc thẩm
quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Song trong một
số trường hợp, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với
tài sản còn phụ thuộc vào các giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản đó.
Chẳng hạn, đối với tranh chấp về nhà ở liên quan đến chính sách cải tạo
nhà, tranh chấp về đất đai mà người sử dụng đất chư được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chưa có
một trong các loại giấy tờ theo Điều 50 luật đất đai sẽ thuộc thẩm quyền
giải quyết của Uỷ ban nhân dân.
Thông thường tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền
xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp huyện. Tuy nhiên, đối với các
tranh chấp về tài sản hiện đang ở nước ngoài hoặc có một trong các đương
sự ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp ra nước ngoài thì thuộc
thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Thông thường các
tranh chấp về tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi cư trú
của bị đơn. Các đương sự cũng có quyền thoả thuận Toà án nơi cư trú của
nguyên đơn để giải quyết tranh chấp (điểm a, b khoản 1 Điều 35 BLTTDS).
Riêng đối với tranh chấp về bất động sản, theo quy định tại điểm c
khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải
quyết, các đương sự không có quyền thoả thuận về việc yêu cầu Toà án
nơi khác giải quyết, kể cả nơi cư trú của nguyên đơn hoặc bị đơn. Bởi
lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất đai không thể di
dời nên khi giải quyết tranh chấp này, thông thường Toà án phải thực
hiện việc xem xét tại chỗ theo yêu cầu của đương sự. Hơn nữa, các giấy
tờ tài liệu liên quan đến tài sản này sẽ do các cơ quan có thẩm quyền
nơi có bất động sản đó lưu giữ. Vì vậy, Toà án nơi có bất động sản sẽ có
điều kiện thực hiện việc xem xét tại chỗ và thu thập các giấy tờ tài
liệu liên quan đến tài sản đó một cách tốt nhất.
Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là các tranh
chấp về quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản. Tuy nhiên, do tài
sản là đối tượng của các giao dich dân sự nên các tranh chấp này thường
được biểu hiện dưới các dạng tranh chấp cụ thể về hợp đồng mua bán, hợp
đồng cho thuê, bồi thường thiệt hại, về việc phân chia tài sản (kể cả
việc tranh chấp về tài sản trong các vụ việc về hôn nhân gia đình). Cho
nên, hiện nay có ý kiến khác nhau về việc xác định thẩm quyền giải quyết
tranh chấp liên quan đến bất động sản:
Ví dụ: A (có nơi cư trú tại huyện X tỉnh H) cho B (có
nơi cư trú tại huyện Y tỉnh H) thuê một căn nhà tại số 10 huyện Z tỉnh
H. Hết hạn hợp đồng B không trả nhà cho A.
Ý kiến thứ nhất: Đây là tranh chấp về hợp
đồng thuê nhà nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Toà án
nơi cư trú của bị đơn (huyện Y tỉnh H).
Ý kiến thứ hai: Đây là tranh chấp về về bất
động sản nên Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải là Toà án
nơi có bất động sản (huyện Z tỉnh H).
Theo chúng tôi, đây là tranh chấp về hợp đồng thuê
tài sản nhưng đối tượng của hợp đồng thuê nhà lại là bất động sản. Để
giải quyết vụ án này một cách tốt nhất, Toà án phải thực hiện việc xem
xét tại chỗ, kiểm tra các giấy tờ tài liệu liên quan đến việc thuê nhà.
Vì vậy, quan điểm thứ hai là hợp lý hơn.
2. Xác định tư cách của các đương sự
Các đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: Nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Việc xác định tư cách của
các đương sự căn cứ vào Điều 56 BLTTDS. Tuy nhiên, đối với việc xác định
tư cách của các đương sự trong vụ án bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu
đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người
chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được
động sản thông qua hợp đồng có đền bù còn có các ý kiến khác nhau.
Ví dụ: A cho B mượn chiếc xe đạp, B bán cho C.
Ý kiến thứ nhất: Theo quy định tại Điều 56 BLTTDS:
“Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá
nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật nàyquy định khởi kiện để yêu cầu
Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp
của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Do đó, A có quyền khởi kiện C
để đòi lại chiếc xe đạp vì A là chủ sở hữu chiếc xe và C là người giả
thiết đã xâm phạm quyền sở hữu của A. Toà án phải xác định A là nguyên
đơn, C là bị đơn, B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Ý kiến thứ hai: Theo điều 257 BLDS thì trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua “hợp
đồng có đền bù thì chủ sở hữu tài sản có quyền đòi lại động sản nếu
động sản đó bị lấy cắp, bị mất hợc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý
chí của chủ sở hữu”. Vì vậy, A không có quyền đòi lại chiếc xe của C
mà A chỉ có quyền yêu cầu B bồi thường giá trị của chiếc xe. Toà án
phải xác định A là nguyên đơn, B là bị đơn, C là người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan. Nếu B và C tranh chấp với nhau về hợp đồng mua bán
chiếc xe thì B sẽ là nguyên đơn, C là bị đơn, A là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan.
Theo chúng tôi, Điều 56 BLTTDS quy định: “Bị đơn
trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện khi cho rằng quyền
và lợi ích hợp pháp của nguyền đơn bị người đó xâm phạm”. Tuy nhiên
điều đó không có nghĩa bị đơn khởi kiện ai thì người đó là bị đơn.
Trong nhiều trường hợp do không hiểu biết pháp luật nguyên đơn đã khởi
kiện không đúng. Do đó, để đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ án Toà án
phải xác định đúng tư cách của các đương sự. Đối với tranh chấp về sở
hữu tài sản, việc xác định tư cách của các đương sự còn phải dựa vào
phương thức mà người khởi kiện khởi kiện đến Toà án theo quy định của
BLDS. Vì vậy, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai.
Trên đây là hai vấn đề có các quan điểm khác nhau
trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, chúng
tôi rất mong nhận được sự trao đổi của các quý vị.
PGS.TS. NGUYỄN ĐẮC HƯNG
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Trong thời gian gần đây, quy định về giới hạn tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất so với tổng dư nợ của ngân hàng thương mại (NHTM), khái niệm bất động sản trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng và giải pháp tín dụng ngân hàng để cứu thị trường bất động sản… được đề cập đến khá nhiều trên một số diễn đàn, thu hút sự quan tâm không nhỏ của dư luận. Vậy, những nội dung trên cần được hiểu ra sao và liệu tín dụng ngân hàng có giúp phục hồi được thị trường bất động động sản hay không? Bài viết xin nêu một số suy nghĩ về những khía cạnh như đã đề cập.
Trước hết, cần nhận thức bất động sản là gì và phi sản xuất được hiểu ra sao? Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Bất động sản” là: “Tài sản không chuyển rời đi được, như đất cát, nhà cửa,…”. Cũng theo cuốn từ điển này, từ “phi” có nghĩa là “trái với, không phải”. Trên cơ sở đó, nếu lắp ghép với từ sản xuất thì chúng ta có “phi sản xuất” có nghĩa là: không phải sản xuất, trái với sản xuất, hay không phải lĩnh vực sản xuất.
Một sự liên hệ khác, đó là Bộ luật Dân sự. Tại Chương 2, Điều 181, của Bộ luật này có quy định, “Bất động sản” đó là “Tài sản không di, dời được bao gồm:
1- Đất đai.
2- Nhà ở, công trình gắn liền với đất đai; kể cả tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó.
3- Các tài sản khác gắn liền với đất đai.
4- Các tài sản khác do pháp luật quy định.”
Như vậy, tại Bộ luật Dân sự, danh từ “Bất động sản” được giải thích cụ thể hơn, chi tiết hơn.
Một số nghiên cứu khác cho rằng, việc phân loại tài sản thành “bất động sản” và “động sản” có nguồn gốc từ Luật cổ La Mã. Theo đó, bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ.
Trong tiếng Anh, cụm từ Real Estate được dịch là bất động sản hay tài sản bất động. Trong tiếng Pháp, từ Immobilié cũng được dịch là Bất động sản. Tại Trung Quốc, người ta sử dụng thuật ngữ địa sản, tức là tài sản gắn liền với đất đai…
Qua nghiên cứu và tham khảo nhiều tài liệu khác nhau có thể thấy, hầu hết các nước đều coi Bất động sản là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất. Nội dung này được thể hiện tại Điều 517, 518 Luật Dân sự Cộng hoà Pháp; tại Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản; tại Điều 130 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga và tại Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Đức…Song trong Luật của CHLB Nga thì lại quy định cụ thể hơn, bất động sản là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung. Việc ghi nhận này là hợp lý bởi đất đai nói chung là bộ phận của lãnh thổ, không thể là đối tượng của giao dịch dân sự.
Cũng dựa trên kết quả tìm hiểu quy định trong luật của một số nước như đề cập ở trên thì mỗi nước lại có quan niệm khác nhau về những tài sản “gắn liền” với đất đai được coi là Bất động sản. Ví dụ như tại Điều 520 Luật Dân sự Pháp quy định “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là BĐS, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản”. Tương tự, quy định này cũng được thể hiện ở Luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Sài Gòn cũ. Trong khi đó, Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan quy định: “Bất động sản là đất đai và những vật gắn liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai”. Luật Dân sự Đức đưa ra khái niệm bất động sản bao gồm đất đai và các tài sản gắn với đất.
Như vậy, có hai cách diễn đạt chính: thứ nhất, miêu tả cụ thể những gì được coi là “gắn liền với đất đai”, cũng được coi là Bất động sản; thứ hai, không giải thích rõ về khái niệm này và dẫn tới các cách hiểu rất khác nhau về những tài sản “gắn liền với đất đai”.
Nhìn chung, pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất ở chỗ coi “Bất động sản” gồm: đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của mỗi nước cũng có những nét đặc thù riêng thể hiện ở quan điểm phân loại và tiêu chí phân loại, tạo ra cái gọi là “khu vực giáp ranh giữa hai khái niệm bất động sản và động sản”.
Từ cách hiểu, cách diễn đạt nói trên quay trở lại quan niệm hiện hành về “Bất động sản” gắn với thực tiễn hoạt động tín dụng ngân hàng ở nước ta hiện nay xem có phải là lĩnh vực phi sản xuất không; mở rộng ra cần xem xét đối tượng nào là phi sản xuất, đối tượng nào là vay tiêu dùng!
Một là, trường hợp doanh nghiệp vay vốn đầu tư xây dựng nhà xưởng, kho hàng, bến bãi, cơ sở nghỉ mát, nghỉ dưỡng, bệnh viện, phòng khám bệnh, trường học, cơ sở đào tạo nghề, khách sạn, nhà hàng, nhà để xe ô tô…, nếu chiếu theo giải thích thuật ngữ nói trên thì là bất động sản, tức là đất đai hoặc các công trình xây dựng gắn liền với đất nhưng thực tế không thể coi là phi sản xuất được, bởi vì nó được đưa vào phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ, đem lại giá trị gia tăng cho chủ đầu tư.
Hai là, doanh nghiệp vay vốn và sử dụng vốn vay đầu tư xây dựng chung cư cao tầng, căn hộ, nhà liền kề, biệt thự… để bán. Cũng theo giải thích thuật ngữ nói trên thì là bất động sản, nhưng xét ở góc độ nhà đầu tư, nhà kinh doanh, thì đó là sản phẩm đầu tư ra để bán, nó có quá trình kết tinh giá trị mới của nhà đầu tư, nên cần coi đó là lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Ba là, doanh nghiệp vay vốn và sử dụng vốn vay đầu tư xây dựng trụ sở văn phòng của doanh nghiệp, cho thuê văn phòng, cho thuê mặt bằng kinh doanh. Đây cũng là bất động sản, nhưng là sản phẩm sử dụng trong kinh doanh của chính doanh nghiệp, cho thuê, đem lại nguồn thu nhập cho doanh nghiệp, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy cần xem đây là lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bốn là, doanh nghiệp vay vốn đầu tư xây dựng hạ tầng trong khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, cụm công nghiệp… sau đó cho doanh nghiệp khác thuê lại. Ở góc độ tài sản hay khái niệm tài sản thì đó là bất động sản, nhưng ở góc độ kinh doanh thì cần coi đó là đầu tư cho sản xuất kinh doanh.
Năm là, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn đầu tư xây dựng khu tập luyện thể thao hay chơi thể thao, nơi vui chơi giải trí,…đưa vào kinh doanh, cho thuê kinh doanh. Đây thực chất cũng là lĩnh vực bất động sản, nhưng có tính chất sản xuất kinh doanh vì doanh nghiệp kỳ vọng có nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên từ khách hàng, nên cần coi đây là đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Sáu là, hộ gia đình, cá nhân bên cạnh vốn tự có thì vay vốn NHTM, sử dụng vốn vay để sửa chữa nhà hay xây dựng nhà để ở, mua nhà để ở, có nguồn trả nợ chính là tiền lương và thu nhập khác ổn định trong nhiều năm. Đối tượng sử dụng vốn vay chính là bất động sản và đúng là thuộc lĩnh vực tiêu dùng, song đó cũng là nhu cầu chính đáng, hợp lý và người vay chứng minh được nguồn thu nhập ổn định để trả nợ. Vì vậy không nên cứng nhắc cấm đoán, hạn chế cho vay. Miễn là người vay vốn không phải là để đầu cơ bất động sản, với nguồn trả nợ không phải là trông chờ vào bán nhà đất sau khi giá tăng, chênh lệch so với thời điểm mua vào.
Bảy là, hộ gia đình, cá nhân vay tiền để cho con em đi du học, đi chữa bệnh ở nước ngoài, đi du lịch nước ngoài, mua sắm phương tiện sinh hoạt đắt tiền,…nguồn trả nợ là tiền lương, tiền cho thuê nhà hay cho thuê cửa hàng, các nguồn thu nhập ổn định khác. Đây cũng chính là lĩnh vực tiêu dùng nhưng cũng cần được xem xét cho vay vì không phải là đầu cơ, hay trông chờ vào nguồn thu nhập kỳ vọng bấp bênh trong tương lại để trả nợ, mà từ nguồn thu nhập thực tế.
Nói tóm lại, nếu doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân vay vốn đầu tư vào việc hình thành các tài sản trên đất đai, nâng cao giá trị của tài sản cố định đó, đồng thời tài sản đó được đưa vào sản xuất kinh doanh, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, đem lại nguồn thu nhập thường xuyên cho người vay vốn thì hoàn toàn có thể vận dụng cho vay được dưới hình thức đầu tư cho sản xuất kinh doanh, chứ không thể coi là phi sản xuất, đành rằng đó là bất động sản. Hay nói cách khác, khái niệm về bất động sản không có gì thay đổi, nhưng cần được nói rõ là bất động sản tham gia vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu sinh hoạt, đời sống của chính người vay chứ không phải là đầu cơ chờ tăng giá.
Đối với tín dụng tiêu dùng, đó là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm các cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp người vay trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng sinh hoạt và đời sống, phương tiện đi lại,…đáp ứng các nhu cầu khác về y tế, giáo dục, du lịch, xuất khẩu lao động,… mà có nguồn thu nhập ổn định thì không nên cấm đoán hay hạn chế cho vay, miễn là đảm bảo an toàn.
Tuy nhiên không phải là bất động sản nào đưa vào sản xuất kinh doanh, hay có mục đích sản xuất kinh doanh nào cũng được mở rộng cho vay, được nới rộng tín dụng, mà cần chú ý, hạn chế những trường hợp cụ thể sau đây:
Doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu đô thị mới, sau đó bán nền nhà, bán lô đất cho xây dựng nhà ở, chứ không phải là xây dựng nhà ở, thì đây chính là lĩnh vực bất động sản cần xem xét không cho vay vốn. Hoặc là doanh nghiệp vay vốn để đền bù giải phóng mặt bằng, lấy đất để chờ giá tăng thì lĩnh vực bất động sản này cũng không thể cho vay.
Những dự án của nhiều địa phương được giao cho doanh nghiệp triển khai xây dựng cảng biển, sân bay, một số cơ sở hạ tầng khác… được thực hiện theo kiểu phong trào, thực hiện tràn lan, dự báo không có hiệu quả thì cũng cần được đưa vào lĩnh vực bất động sản hạn chế cho vay.
Đối với hộ gia đình và cá nhân, sử dụng vốn vay đầu tư bất động sản chờ tăng giá để bán và nguồn trả nợ chủ yếu là kỳ vọng vào bán bất động sản khi giá tăng thì cũng cần cấm đoán hay hạn chế cho vay.
Cũng trong nhóm bất động sản cần được coi là lĩnh vực sản xuất kinh doanh đề cập ở phần đầu bài viết, nhưng một số lĩnh vực cần hạn chế cho vay, nhất là trong giai đoạn hiện nay, cụ thể như doanh nghiệp đầu tư xây dựng chung cư, biệt thự, căn hộ liền kề… Bởi vì đây là phân khúc thị trường bất động sản được phát triển quá nóng thời gian qua, mang tính chất đầu cơ chờ tăng giá chiếm tỷ trọng lớn, còn nhu cầu đích thực không nhiều. Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu Vietnam Report công bố thời điểm đầu năm 2011, trong số gần 500 mẫu điều tra tại thị trường Hà Nội, số người mua bất động sản phục vụ mục đích đầu tư chiếm tỷ lệ 61,9%, chỉ có 38,1% mua để phục vụ nhu cầu ở và sinh hoạt của gia đình. Có đến 47,7% trong số 61,9% nhà đầu tư mua bất động sản phục vụ mục đích đầu tư là dành cho đầu tư ngắn hạn, lướt sóng kiếm lời. Được biết trong số hơn 38 % có nhu cầu đích thực thì không phải ai cũng có đủ vốn tự có, có nguồn lực tài chính đầy đủ của gia đình, mà tỷ lệ quan trọng là phải vay bổ sung từ nguồn vốn tín dụng ngân hàng qua kênh tiêu dùng. Cũng trong phân khúc thị trường bất động sản này giá tăng quá ảo thời gian qua, tập trung là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy cần để cho thị trường điều chỉnh làm sao cho giá cả trở lại mức mà nhiều người có nhu cầu đích thực có thể chấp nhận được. Tiếp tục bơm vốn tín dụng ngân hàng thương mại cho lĩnh vực này sẽ có nguy cơ tiếp tục đem lại rủi ro đối với người cho vay.
Nhóm đầu tư bất động sản là khu công nghiệp, khu chế xuất, mục đích cũng là sản xuất kinh doanh. Song tình trạng đầu tư tràn lan theo kiểu phong trào ở nhiều địa phương dẫn đến kết quả cho thuê mặt bằng đạt tỷ lệ thấp, nên nguy cơ phát sinh đọng vốn đối với cả chủ đầu tư và bên cho vay. Được biết đến nay, cả nước có 223 Khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), Khu công nghệ cao ( KCNC), phân bố trên 56 tỉnh, thành phố, trong đó 171 KCN đã đi vào hoạt động; 52 KCN đang và sẽ xây dựng. Chỉ có 7 tỉnh không có KCN. Song theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tỷ lệ lấp đầy các KCN, KCX, Khu công nghệ cao rất thấp, chỉ 46%; có tỉnh tỷ lệ bình quân chỉ 10%. Tại vùng đồng bằng sống Cửu Long (ĐBSCL) có tới 17.690 ha trong tổng số 19.102 ha đất bị bỏ trống tại các khu, cụm công nghiệp, chiếm hơn 92,6% tổng diện tích của các khu đó. Ở miền Trung, tỷ lệ lấp đầy cũng rất thấp, bình quân 30%. Tại Hà Nội có 19 KCN với diện tích gần 8.000 ha nhưng chỉ có 8 KCN hoạt động… Tỉnh Bình Thuận quy hoạch 8 KCN với quy mô 4.284 ha nhưng theo kết luận của Thanh tra Chính phủ năm 2010, tỷ lệ sử dụng đất ở các KCN của tỉnh rất thấp, chỉ 16%. Còn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có 14 KCN với diện tích 8.800 ha, mặc dù có đủ điều kiện hạ tầng nhưng các KCN trên địa bàn chỉ mới lấp đầy hơn 24%. Vì vậy, trong định hướng tín dụng ngân hàng cần hạn chế cho vay lĩnh vực này.
Tương tự, nhóm đầu tư bất động sản khác đưa vào sản xuất kinh doanh: khách sạn, văn phòng cho thuê,… phải dựa trên khả năng thu hồi vốn, khả năng thu hút khách thì mới có thể cho vay, chứ về mặt chính sách tín dụng không thể mở rộng tràn lan được.
Thị trường bất động sản và tín dụng ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng không thể trông chờ vào sự “tài trợ” của NHTM để cứu thị trường bất động sản hiện nay được. Tín dụng ngân hàng trong xu thế hội nhập cần được rút ra bài học kinh nghiệm trong thời gian qua, cần có sự điều chỉnh phù hợp để góp phần đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản, đáp ứng nhu cầu an toàn, hiệu quả của chủ đầu tư, nhà kinh doanh, nhu cầu chính đáng của người tiêu dùng và sự phát triển bền vững của hệ thống các TCTD ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Bản thân chủ đầu tư bất động sản cần có chiến lược và giải pháp cho chính bản thân mình trong hoạt động kinh doanh.
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Trong thời gian gần đây, quy định về giới hạn tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất so với tổng dư nợ của ngân hàng thương mại (NHTM), khái niệm bất động sản trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng và giải pháp tín dụng ngân hàng để cứu thị trường bất động sản… được đề cập đến khá nhiều trên một số diễn đàn, thu hút sự quan tâm không nhỏ của dư luận. Vậy, những nội dung trên cần được hiểu ra sao và liệu tín dụng ngân hàng có giúp phục hồi được thị trường bất động động sản hay không? Bài viết xin nêu một số suy nghĩ về những khía cạnh như đã đề cập.
Trước hết, cần nhận thức bất động sản là gì và phi sản xuất được hiểu ra sao? Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Bất động sản” là: “Tài sản không chuyển rời đi được, như đất cát, nhà cửa,…”. Cũng theo cuốn từ điển này, từ “phi” có nghĩa là “trái với, không phải”. Trên cơ sở đó, nếu lắp ghép với từ sản xuất thì chúng ta có “phi sản xuất” có nghĩa là: không phải sản xuất, trái với sản xuất, hay không phải lĩnh vực sản xuất.
Một sự liên hệ khác, đó là Bộ luật Dân sự. Tại Chương 2, Điều 181, của Bộ luật này có quy định, “Bất động sản” đó là “Tài sản không di, dời được bao gồm:
1- Đất đai.
2- Nhà ở, công trình gắn liền với đất đai; kể cả tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó.
3- Các tài sản khác gắn liền với đất đai.
4- Các tài sản khác do pháp luật quy định.”
Như vậy, tại Bộ luật Dân sự, danh từ “Bất động sản” được giải thích cụ thể hơn, chi tiết hơn.
Một số nghiên cứu khác cho rằng, việc phân loại tài sản thành “bất động sản” và “động sản” có nguồn gốc từ Luật cổ La Mã. Theo đó, bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất. Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, mùa màng, cây trồng… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu thành lãnh thổ.
Trong tiếng Anh, cụm từ Real Estate được dịch là bất động sản hay tài sản bất động. Trong tiếng Pháp, từ Immobilié cũng được dịch là Bất động sản. Tại Trung Quốc, người ta sử dụng thuật ngữ địa sản, tức là tài sản gắn liền với đất đai…
Qua nghiên cứu và tham khảo nhiều tài liệu khác nhau có thể thấy, hầu hết các nước đều coi Bất động sản là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất. Nội dung này được thể hiện tại Điều 517, 518 Luật Dân sự Cộng hoà Pháp; tại Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản; tại Điều 130 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga và tại Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Đức…Song trong Luật của CHLB Nga thì lại quy định cụ thể hơn, bất động sản là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung. Việc ghi nhận này là hợp lý bởi đất đai nói chung là bộ phận của lãnh thổ, không thể là đối tượng của giao dịch dân sự.
Cũng dựa trên kết quả tìm hiểu quy định trong luật của một số nước như đề cập ở trên thì mỗi nước lại có quan niệm khác nhau về những tài sản “gắn liền” với đất đai được coi là Bất động sản. Ví dụ như tại Điều 520 Luật Dân sự Pháp quy định “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là BĐS, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản”. Tương tự, quy định này cũng được thể hiện ở Luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Sài Gòn cũ. Trong khi đó, Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan quy định: “Bất động sản là đất đai và những vật gắn liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai”. Luật Dân sự Đức đưa ra khái niệm bất động sản bao gồm đất đai và các tài sản gắn với đất.
Như vậy, có hai cách diễn đạt chính: thứ nhất, miêu tả cụ thể những gì được coi là “gắn liền với đất đai”, cũng được coi là Bất động sản; thứ hai, không giải thích rõ về khái niệm này và dẫn tới các cách hiểu rất khác nhau về những tài sản “gắn liền với đất đai”.
Nhìn chung, pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất ở chỗ coi “Bất động sản” gồm: đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của mỗi nước cũng có những nét đặc thù riêng thể hiện ở quan điểm phân loại và tiêu chí phân loại, tạo ra cái gọi là “khu vực giáp ranh giữa hai khái niệm bất động sản và động sản”.
Từ cách hiểu, cách diễn đạt nói trên quay trở lại quan niệm hiện hành về “Bất động sản” gắn với thực tiễn hoạt động tín dụng ngân hàng ở nước ta hiện nay xem có phải là lĩnh vực phi sản xuất không; mở rộng ra cần xem xét đối tượng nào là phi sản xuất, đối tượng nào là vay tiêu dùng!
Một là, trường hợp doanh nghiệp vay vốn đầu tư xây dựng nhà xưởng, kho hàng, bến bãi, cơ sở nghỉ mát, nghỉ dưỡng, bệnh viện, phòng khám bệnh, trường học, cơ sở đào tạo nghề, khách sạn, nhà hàng, nhà để xe ô tô…, nếu chiếu theo giải thích thuật ngữ nói trên thì là bất động sản, tức là đất đai hoặc các công trình xây dựng gắn liền với đất nhưng thực tế không thể coi là phi sản xuất được, bởi vì nó được đưa vào phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ, đem lại giá trị gia tăng cho chủ đầu tư.
Hai là, doanh nghiệp vay vốn và sử dụng vốn vay đầu tư xây dựng chung cư cao tầng, căn hộ, nhà liền kề, biệt thự… để bán. Cũng theo giải thích thuật ngữ nói trên thì là bất động sản, nhưng xét ở góc độ nhà đầu tư, nhà kinh doanh, thì đó là sản phẩm đầu tư ra để bán, nó có quá trình kết tinh giá trị mới của nhà đầu tư, nên cần coi đó là lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Ba là, doanh nghiệp vay vốn và sử dụng vốn vay đầu tư xây dựng trụ sở văn phòng của doanh nghiệp, cho thuê văn phòng, cho thuê mặt bằng kinh doanh. Đây cũng là bất động sản, nhưng là sản phẩm sử dụng trong kinh doanh của chính doanh nghiệp, cho thuê, đem lại nguồn thu nhập cho doanh nghiệp, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy cần xem đây là lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bốn là, doanh nghiệp vay vốn đầu tư xây dựng hạ tầng trong khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, cụm công nghiệp… sau đó cho doanh nghiệp khác thuê lại. Ở góc độ tài sản hay khái niệm tài sản thì đó là bất động sản, nhưng ở góc độ kinh doanh thì cần coi đó là đầu tư cho sản xuất kinh doanh.
Năm là, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn đầu tư xây dựng khu tập luyện thể thao hay chơi thể thao, nơi vui chơi giải trí,…đưa vào kinh doanh, cho thuê kinh doanh. Đây thực chất cũng là lĩnh vực bất động sản, nhưng có tính chất sản xuất kinh doanh vì doanh nghiệp kỳ vọng có nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên từ khách hàng, nên cần coi đây là đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Sáu là, hộ gia đình, cá nhân bên cạnh vốn tự có thì vay vốn NHTM, sử dụng vốn vay để sửa chữa nhà hay xây dựng nhà để ở, mua nhà để ở, có nguồn trả nợ chính là tiền lương và thu nhập khác ổn định trong nhiều năm. Đối tượng sử dụng vốn vay chính là bất động sản và đúng là thuộc lĩnh vực tiêu dùng, song đó cũng là nhu cầu chính đáng, hợp lý và người vay chứng minh được nguồn thu nhập ổn định để trả nợ. Vì vậy không nên cứng nhắc cấm đoán, hạn chế cho vay. Miễn là người vay vốn không phải là để đầu cơ bất động sản, với nguồn trả nợ không phải là trông chờ vào bán nhà đất sau khi giá tăng, chênh lệch so với thời điểm mua vào.
Bảy là, hộ gia đình, cá nhân vay tiền để cho con em đi du học, đi chữa bệnh ở nước ngoài, đi du lịch nước ngoài, mua sắm phương tiện sinh hoạt đắt tiền,…nguồn trả nợ là tiền lương, tiền cho thuê nhà hay cho thuê cửa hàng, các nguồn thu nhập ổn định khác. Đây cũng chính là lĩnh vực tiêu dùng nhưng cũng cần được xem xét cho vay vì không phải là đầu cơ, hay trông chờ vào nguồn thu nhập kỳ vọng bấp bênh trong tương lại để trả nợ, mà từ nguồn thu nhập thực tế.
Nói tóm lại, nếu doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân vay vốn đầu tư vào việc hình thành các tài sản trên đất đai, nâng cao giá trị của tài sản cố định đó, đồng thời tài sản đó được đưa vào sản xuất kinh doanh, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, đem lại nguồn thu nhập thường xuyên cho người vay vốn thì hoàn toàn có thể vận dụng cho vay được dưới hình thức đầu tư cho sản xuất kinh doanh, chứ không thể coi là phi sản xuất, đành rằng đó là bất động sản. Hay nói cách khác, khái niệm về bất động sản không có gì thay đổi, nhưng cần được nói rõ là bất động sản tham gia vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu sinh hoạt, đời sống của chính người vay chứ không phải là đầu cơ chờ tăng giá.
Đối với tín dụng tiêu dùng, đó là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm các cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp người vay trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng sinh hoạt và đời sống, phương tiện đi lại,…đáp ứng các nhu cầu khác về y tế, giáo dục, du lịch, xuất khẩu lao động,… mà có nguồn thu nhập ổn định thì không nên cấm đoán hay hạn chế cho vay, miễn là đảm bảo an toàn.
Tuy nhiên không phải là bất động sản nào đưa vào sản xuất kinh doanh, hay có mục đích sản xuất kinh doanh nào cũng được mở rộng cho vay, được nới rộng tín dụng, mà cần chú ý, hạn chế những trường hợp cụ thể sau đây:
Doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu đô thị mới, sau đó bán nền nhà, bán lô đất cho xây dựng nhà ở, chứ không phải là xây dựng nhà ở, thì đây chính là lĩnh vực bất động sản cần xem xét không cho vay vốn. Hoặc là doanh nghiệp vay vốn để đền bù giải phóng mặt bằng, lấy đất để chờ giá tăng thì lĩnh vực bất động sản này cũng không thể cho vay.
Những dự án của nhiều địa phương được giao cho doanh nghiệp triển khai xây dựng cảng biển, sân bay, một số cơ sở hạ tầng khác… được thực hiện theo kiểu phong trào, thực hiện tràn lan, dự báo không có hiệu quả thì cũng cần được đưa vào lĩnh vực bất động sản hạn chế cho vay.
Đối với hộ gia đình và cá nhân, sử dụng vốn vay đầu tư bất động sản chờ tăng giá để bán và nguồn trả nợ chủ yếu là kỳ vọng vào bán bất động sản khi giá tăng thì cũng cần cấm đoán hay hạn chế cho vay.
Cũng trong nhóm bất động sản cần được coi là lĩnh vực sản xuất kinh doanh đề cập ở phần đầu bài viết, nhưng một số lĩnh vực cần hạn chế cho vay, nhất là trong giai đoạn hiện nay, cụ thể như doanh nghiệp đầu tư xây dựng chung cư, biệt thự, căn hộ liền kề… Bởi vì đây là phân khúc thị trường bất động sản được phát triển quá nóng thời gian qua, mang tính chất đầu cơ chờ tăng giá chiếm tỷ trọng lớn, còn nhu cầu đích thực không nhiều. Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu Vietnam Report công bố thời điểm đầu năm 2011, trong số gần 500 mẫu điều tra tại thị trường Hà Nội, số người mua bất động sản phục vụ mục đích đầu tư chiếm tỷ lệ 61,9%, chỉ có 38,1% mua để phục vụ nhu cầu ở và sinh hoạt của gia đình. Có đến 47,7% trong số 61,9% nhà đầu tư mua bất động sản phục vụ mục đích đầu tư là dành cho đầu tư ngắn hạn, lướt sóng kiếm lời. Được biết trong số hơn 38 % có nhu cầu đích thực thì không phải ai cũng có đủ vốn tự có, có nguồn lực tài chính đầy đủ của gia đình, mà tỷ lệ quan trọng là phải vay bổ sung từ nguồn vốn tín dụng ngân hàng qua kênh tiêu dùng. Cũng trong phân khúc thị trường bất động sản này giá tăng quá ảo thời gian qua, tập trung là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy cần để cho thị trường điều chỉnh làm sao cho giá cả trở lại mức mà nhiều người có nhu cầu đích thực có thể chấp nhận được. Tiếp tục bơm vốn tín dụng ngân hàng thương mại cho lĩnh vực này sẽ có nguy cơ tiếp tục đem lại rủi ro đối với người cho vay.
Nhóm đầu tư bất động sản là khu công nghiệp, khu chế xuất, mục đích cũng là sản xuất kinh doanh. Song tình trạng đầu tư tràn lan theo kiểu phong trào ở nhiều địa phương dẫn đến kết quả cho thuê mặt bằng đạt tỷ lệ thấp, nên nguy cơ phát sinh đọng vốn đối với cả chủ đầu tư và bên cho vay. Được biết đến nay, cả nước có 223 Khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), Khu công nghệ cao ( KCNC), phân bố trên 56 tỉnh, thành phố, trong đó 171 KCN đã đi vào hoạt động; 52 KCN đang và sẽ xây dựng. Chỉ có 7 tỉnh không có KCN. Song theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tỷ lệ lấp đầy các KCN, KCX, Khu công nghệ cao rất thấp, chỉ 46%; có tỉnh tỷ lệ bình quân chỉ 10%. Tại vùng đồng bằng sống Cửu Long (ĐBSCL) có tới 17.690 ha trong tổng số 19.102 ha đất bị bỏ trống tại các khu, cụm công nghiệp, chiếm hơn 92,6% tổng diện tích của các khu đó. Ở miền Trung, tỷ lệ lấp đầy cũng rất thấp, bình quân 30%. Tại Hà Nội có 19 KCN với diện tích gần 8.000 ha nhưng chỉ có 8 KCN hoạt động… Tỉnh Bình Thuận quy hoạch 8 KCN với quy mô 4.284 ha nhưng theo kết luận của Thanh tra Chính phủ năm 2010, tỷ lệ sử dụng đất ở các KCN của tỉnh rất thấp, chỉ 16%. Còn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có 14 KCN với diện tích 8.800 ha, mặc dù có đủ điều kiện hạ tầng nhưng các KCN trên địa bàn chỉ mới lấp đầy hơn 24%. Vì vậy, trong định hướng tín dụng ngân hàng cần hạn chế cho vay lĩnh vực này.
Tương tự, nhóm đầu tư bất động sản khác đưa vào sản xuất kinh doanh: khách sạn, văn phòng cho thuê,… phải dựa trên khả năng thu hồi vốn, khả năng thu hút khách thì mới có thể cho vay, chứ về mặt chính sách tín dụng không thể mở rộng tràn lan được.
Thị trường bất động sản và tín dụng ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng không thể trông chờ vào sự “tài trợ” của NHTM để cứu thị trường bất động sản hiện nay được. Tín dụng ngân hàng trong xu thế hội nhập cần được rút ra bài học kinh nghiệm trong thời gian qua, cần có sự điều chỉnh phù hợp để góp phần đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản, đáp ứng nhu cầu an toàn, hiệu quả của chủ đầu tư, nhà kinh doanh, nhu cầu chính đáng của người tiêu dùng và sự phát triển bền vững của hệ thống các TCTD ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Bản thân chủ đầu tư bất động sản cần có chiến lược và giải pháp cho chính bản thân mình trong hoạt động kinh doanh.







